Danh mục: Tin tức

  • Phân tích các bước trong quá trình ra quyết định quản trị

    Phân tích các bước trong quá trình ra quyết định quản trị

    Trong quá trình kinh doanh, nhà quản trị luôn luôn phải đưa ra quyết định tốt nhất để có thể giúp doanh nghiệp mình phát triển. Vậy ra quyết định quản trị là gì? Quy trình ra quyết định quản lý gồm những bước như thế nào? Trong bài viết này của Luận Văn 24, chúng tôi sẽ chia sẻ chi tiết những nội dung này.

    hinh-anh-ra-quyet-dinh-quan-tri-1

    1. Bản chất, vai trò và chức năng của quyết định trong quản trị

    Trong mọi tổ chức luôn luôn tồn tại nhu cầu giải quyết các vấn đề nảy sinh trong quá trình quản trị. Để giải quyết các vấn đề này người ta thường phải xây dựng và lựa chọn các phương án tối ưu, đòi hỏi các nhà quản trị phải cân nhắc, lựa chọn và đi đến quyết định.

    1.1. Bản chất

    Quyết định quản trị là hành vi sáng tạo của nhà quản trị nhằm định ra chương trình và tính chất hoạt động của tổ chức để giải quyết một vấn đề đã chín muồi, trên cơ sở sự hiểu biết các quy luật vận động khách quan của hệ thống bị quản trị và việc phân tích các thông tin của hệ thống đó.

    1.2. Vai trò

    Các quyết định quản trị có vai trò rất quan trọng vì:

    • Các quyết định luôn luôn là sản phẩm chủ yếu và là trung tâm của mọi hoạt động về quản trị
    • Sự thành công hay thất bại của tổ chức phụ thuộc rất nhiều vào các quyết định của nhà quản trị.
    • Không thể thay thế các quyết định quản trị bằng tiền bạc, vốn liếng, sự tự điều chỉnh hoặc bất cứ thứ tự động hóa bằng máy móc tinh xảo nào.

    Mỗi quyết định quản trị là một khâu trong toàn bộ hệ thống các quyết định của một tổ chức có sự tương tác lẫn nhau rất phức tạp. Không thận trọng trong việc ra các quyết định, thường có thể dẫn tới những hậu quả khôn lường.

    1.3. Chức năng của các quyết định

    Quyết định là trái tim của mọi hoạt động quản trị nó cần phải thực hiện được những chức năng chủ yếu sau:

    • Lựa chọn phương án tối ưu.
    • Định hướng.
    • Bảo đảm các yếu tố thực hiện.
    • Phối hợp hành động.
    • Chức năng động viên, cưỡng bức.
    • Bảo đảm tính thống nhất trong thực hiện.
    • Bảo đảm tính hiệu quả trong kinh doanh.
    • Bảo đảm tính hiệu lực.
    • Bảo mật.

    hinh-anh-ra-quyet-dinh-quan-tri-2

    2. Quyết định là gì? Quyết định quản trị là gì?

    Quyết định là hành vi sáng tạo của chủ doanh nghiệp nhằm định ra mục tiêu, chương trình và tính chất hoạt động của doanh nghiệp, để giải quyết một vấn đề có tính cấp bách trên cơ sở hiểu biết các quy luật vận động khách quan của hệ thống bị quản trị và việc phân tích các thông tin về hiện trạng của hệ thống.

    Không nên nhầm lẫn việc ra quyết định và lập kế hoạch. Trong thực tế đôi khi quyết định được thực hiện một cách nhanh chóng, ít đòi hỏi về thời gian hay sự nỗ lực, hay có khi nó chỉ chi phối hành động trong ít phút. Trong khi đó có những quyết định quan trọng, có ảnh hưởng lâu dài đối với doanh nghiệp, đòi hỏi nhiều công sức của người ra quyết định.

    3. Các bước trong quá trình ra quyết định quản trị

    3.1. Phát hiện vấn đề, phân tích thông tin, sơ bộ đề ra nhiệm vụ

    Quyết định là sản phẩm của quá trình tư duy và tư duy sẽ chỉ xuất hiện trong hoàn cảnh có vấn đề. Việc phát hiện vấn đề trong hoạt động lãnh đạo là điều tối cần thiết để có cơ sở định hướng ban hành các quyết định phù hợp. Vấn đề được phát hiện ở đây  được hiểu là sự khác biệt giữa tình trạng hiện tại và mong muốn tương lai.

    Khi xác định vấn đề cần căn cứ vào những tiêu chuẩn nhất định: mục tiêu đã được thiết lập từ trước trong kế hoạch, các chính sách, các yêu cầu của cấp trên, yêu cầu của công việc hiện tại hoặc những mâu thuẫn đang xảy ra trong quá trình điều hành chỉ huy công việc.

    Khi xác định vấn đề cần lưu ý các điều kiện như: có thuộc  thẩm quyền giải quyết của chủ thể lãnh đạo không? Chủ thể lãnh đạo có thông tin đầy đủ về vấn đề không?có đầy đủ nguồn lực để giải quyết không?

    Kết thúc phần này, người lãnh đạo xác định được tên vấn đề, lọai vấn đề và mức độ cần thiết để có qưyết định hay không.

    3.2. Chọn tiêu chuẩn đánh giá hiệu quả của phương án ra quyết định và xác định mục tiêu

    Người lãnh đạo cần nghiên cứu thật sâu sắc các vấn đề bằng các hình thức sau đây:

    • Điều tra nghiên cứu , thu thập và xử lý thông tin.
    • Xác định nguồn gốc của vấn đề, trả lời câu hỏi: “Vấn đề xuất hiện từ đâu? Tại sao vấn đề lại xuất hiện trong thời điểm này? Điều gì đang xảy ra?…”
    • Xác định các tiêu chí hợp pháp và hợp lý của  vấn đề để có thể có sự lựa chọn phù hợp.

    Kết thúc bước này, người lãnh đạo lập được danh mục liệt kê  các tiêu chí và thứ tự ưu tiên của các tiêu chí.

    hinh-anh-ra-quyet-dinh-quan-tri-3

    Bạn đang làm luận văn về đề tài liên quan đến quản trị trong doanh nghiệp? Bạn gặp khó khăn với việc tìm kiếm tài liệu, dữ liệu, phân tích dữ liệu? Quỹ thời gian của bạn không đủ cho việc hoàn thành chỉn chu bài luận của mình, Hãy để Dịch vụ viết thuê luận văn của Luận Văn 24 giúp bạn!

    3.3. Xây dựng các phương án giải quyết vấn đề

    Phương án là cách thức để giải quyết vấn đề, ra quyết định là lựa chọn một phương án tối ưu trong các phương án đã được dự kiến và sắp xếp theo thứ tự ưu tiên. Trong quá trình này, người lãnh đạo cần liệt kê tất cả các phương án có thể  và vận dụng các kỹ thuật như ra quyết định nhóm, tham khảo ý kiến của các chuyên gia, lấy ý kiến của người sẽ thực hiện quyết định…để chọn lựa phương án cuối cùng.

    Kết thúc bước này, người lãnh đạo  lập được danh mục các phương án có thể có

    3.4. Phân tích đánh giá các phương án và so sánh các phương án theo tiêu chuẩn và mục tiêu đã xác định

    Phân tích nghĩa là đánh giá từng phương án theo các tiêu chí quyết định. Phương án  được lựa chọn là phương án tối ưu bảo đảm yêu cầu của tính hợp pháp và hợp lý.

    Hoạch định các phương án giải quyết vấn đề:

    • Liệt kê các phương án có thể có để giải quyết nhiệm vụ của vấn đề trong tình huống quản lý.
    • Phân tích ưu điểm, khuyết điểm của từng phương án và định lượng bằng điểm số.
    • Lập bảng so sánh lợi thế của từng phương án và xếp thứ hạng ưu tiên.

    3.5. Lựa chọn phương án tối ưu và hình thức ra quyết định

    Lựa chọn phương án tối ưu theo nhận thức chủ quan của người lãnh đạo sau khi tham khảo ý kiến của nhiều đối tượng và đối chiếu với các thông tin đã biết. Khi ra quyết định quản lý, người lãnh đạo phải kết hợp phương án tối ưu với điều kiện cụ thể ngay trong thời điểm ra quyết định quản lý.

    Thông qua quyết định là quá trình đưa dự thảo quyết định thành quyết định chính thức, là chính thức hóa quyết định chủ quan của người lãnh đạo. Việc thông qua quyết định có thể được tiến hành theo nhiều phương pháp khác nhau: thông qua tập thể hoặc thông qua quyền hạn của thủ trưởng  nhưng quá trình này bị phụ thuộc rất nhiều vào bản lĩnh, tài năng của người lãnh đạo.

    hinh-anh-ra-quyet-dinh-quan-tri-4

    3.6. Ra quyết định

    Ra quyết định là quá trình khách thể hóa quyết định chủ quan của người lãnh đạo, là việc công khai quyết định và chính thức thông báo quyết định bằng nhiều hình thức để tất cả mọi người trong tổ chức, trong cộng đồng nhận thức và thực hiện quyết định.

    Đây là bước cuối cùng của việc ra quyết định sau  khi khẳng định phương án tối ưu. Người quản lý phải trực tiếp ra quyết định và chịu trách nhiệm về quyết định đó. Vấn đề còn lại là việc tổ chức thực hiện để quyết định đi vào cuộc sống.

    6 bước trong quy trình ra quyết định quản lý ở trên có mối quan hệ mật thiết với nhau, và để có được 1 quyết định đúng đắn nhất, nhà quản lý nên thực hiện qua 6 bước nay.

    Trên đây là bài viết tham khảo cung cấp kiến thức đầy đủ để bạn hiểu được khái niệm cũng như quá trình ra quyết định quản trị. Trong quá trình tìm hiểu, nếu có bất kì ý kiến thắc mắc xin liên hệ qua hotline 0988 55 2424 của Luận Văn 24 để được đội ngũ chuyên gia tư vấn giúp đỡ.

    Nguồn: Luanvan24.com

  • Khái niệm bán hàng là gì? Các hình thức bán hàng phổ biến

    Khái niệm bán hàng là gì? Các hình thức bán hàng phổ biến

    Khái niệm bán hàng là gì? Thuật ngữ bán hàng được sử dụng phổ biến trong kinh doanh, tuy nhiên khi xem xét trên nhiều góc độ thì ở mỗi góc độ khác nhau sẽ có cách nhìn nhận cũng khác nhau. Cùng Luận Văn 24 tham khảo ngay bài viết dưới đây để hiểu rõ hơn về khái niệm của bán hàng cũng như các hình thức bán hàng phổ biến hiện nay.

    hinh-anh-khai-niem-ban-hang-1

    1. Khái niệm bán hàng là gì?

    • Dưới góc độ kinh tế

    Bán hàng là hoạt động nhằm thực hiện giá trị của sản phẩm hàng hóa (thay đổi hình thái từ hàng sang tiền) trên cơ sở thỏa mãn nhu cầu của người tiêu dùng về mặt giá trị sử dụng, nhờ đó người sản xuất (hay người bán) đạt được các mục tiêu của mình.

    • Dưới góc độ hoạt động thương mại

    Khái niệm bán hàng là một móc xích trong chu kỳ kinh doanh của doanh nghiệp, bán hàng là việc chuyển dịch quyền sở hữu hàng hóa cho người mua đồng thời thu được tiền hàng hoặc được quyền thu tiền bán hàng. Hay nói cách khác, bán hàng là một mặt của hành vi thương mại -mua bán hàng hóa-theo đó người bán có nghĩa vụ giao hàng, chuyển quyền sở hữu cho người mua và nhận tiền, người mua có nghĩa vụ trả tiền cho người bán và nhận hàng theo thỏa thuận của hai bên.

    • Bán hàng với tư cách là một chức năng (chức năng tiêu thụ sản phẩm)

    Bán hàng là một bộ phận hữu cơ của hoạt động kinh doanh trong bất kỳ doanh nghiệp nào. Ở đây, bán hàng là một khâu trong hệ thống kinh doanh có nhiệm vụ và có các yếu tố tổ chức tương đối độc lập nhưng liên quan chặt chẽ với các chức năng khác. Công việc bán hàng được tổ chức như là một quá trình từ việc thiết lập mục tiêu đến việc thực hiện các biện pháp để đạt được mục tiêu bán hàng.

    • Bán hàng với tư cách là hoạt động của các cá nhân

    Bán hàng là một quá trình (mang tính cá nhân), trong đó người bán tìm hiểu, khám phá, gợi tạo và thỏa mãn những nhu cầu hay ước muốn của người mua để đáp ứng quyền lợi thỏa đáng, lâu dài của hai bên.

    Từ những tiếp cận nói trên có thể hiểu khái niệm bán hàng hiện đại như là một hoạt động giao tiếp mà trong đó người bán tìm hiểu, khám phá nhu cầu hoặc làm phát sinh nhu cầu của người mua đồng thời khẳng định khả năng đáp ứng nhu cầu đó bằng lợi ích của sản phẩm nhằm thỏa mãn quyền lợi thỏa đáng, lâu dài của cả hai bên.

    Định nghĩa trên thể hiện rằng cả hai bên người mua và người bán đều có lợi trong thương vụ ấy và nhấn mạnh việc bán hàng là cả một chuỗi hoạt động và các quan hệ. Bán hàng là quá trình tác động một cách chủ động để sản phẩm đến nơi tiêu dùng, đem lại niềm tin cho khách hàng, đem sản phẩm đến khách hàng làm khách hàng vừa lòng, giúp khách hàng nhận biết và sử dụng sản phẩm và đem lại lợi ích cho công ty để hai bên cùng thắng (win-win).

    hinh-anh-khai-niem-ban-hang-2

    2. Các hình thức bán hàng chủ yếu

    Trên cơ sở những quan điểm và khái niệm trên ta có có thể nói đơn giản rằng bán hàng là một khâu của quá trình thực hiện lưu thông hàng hóa nhằm đưa hàng hóa từ nơi sản xuất đến tay người tiêu dùng bằng nhiều cách. Bán hàng có hai hình thức chủ yếu nhất chính là bán buôn và bán lẻ.

    2.1. Hình thức bán buôn

    Hình thức bán buôn hàng hóa bao gồm tất cả các hoạt động nhằm bán các hàng hóa và dịch vụ cho những người mua về để bán lại hoặc để kinh doanh hay tìm kiếm lợi nhuận của khách hàng. Bán buôn được chia thành các loại hình như sau:

    • Các cơ sở bán buôn hoàn chỉnh (các trung gian thương mại)

    Bao gồm hai hình thức tổ chức đặc biệt là các cơ sở bán buôn thương mại (tiến hành các dịch vụ thương mại cho người bán lẻ và người cung ứng), các nhà phân phối bán buôn công nghiệp (tiến hành bán buôn những sản phẩm hàng hóa cho người sử dụng công nghiệp là chính), và các kiểu cơ sở bán buôn đặc biệt (cơ sở bán buôn chức năng hữu hạn áp dụng trong những điều kiện đặc biệt phục vụ cho những lợi ích nhất thời chiếm tỷ trọng nhỏ trong phân phối  như: văn phòng môi giới thương mại bán buôn, cơ sở bán buôn thu mua…).

    • Các đại lý và môi giới bán buôn (các trung gian chức năng): Không sở hữu hàng hóa mà tiến hành các dịch vụ nhằm thúc đẩy việc phát triển sức bán, tiết kiệm chi phí tác nghiệp.

    Các hình thức bán buôn của doanh nghiệp thương mại:

    • Hình thức bán buôn qua đại diện thương mại

    Đặc điểm của công nghệ này là nhà bán buôn từ các đại diện thương mại tiếp cận trực tiếp tới các tổ chức và doanh nghiệp thương mại bán lẻ mang các mẫu hàng để giới thiệu và mời khách hàng mua hàng sau đó tiến hành thỏa thuận và ký kết hợp đồng lâu dài. Thành công hay thất bại của phương thức này phần lớn phụ thuộc vào các đại diện thương mại, vào các thông tin mà đại diện thương mại chọn lựa đối tượng mời chào, phụ thuộc vào cách trình bày và giới thiệu hàng hóa.

    Các đại diện thương mại của nhà bán buôn phải dẫn chứng các nét nổi bật của sản phẩm hoặc dịch vụ mà mình muốn bán, nêu được lợi ích của nó khi khách hàng có được và đưa ra những bằng cớ hiện thực chứng minh lời giới thiệu của đại diện thương mại là hoàn toàn đúng. Và nếu như các khách hàng có những phản ứng, khước từ hoặc than phiền về hàng hóa, lúc này đòi hỏi các đại diện thương mại phải chuẩn bị các lý lẽ để thương lượng với khách hàng nhằm kết thúc bán hàng.

    Chính vì vậy, nên công nghệ này chỉ áp dụng cho các mặt hàng mới hoặc đối với một thị trường mới hoặc chỉ áp dụng cho từng thương vụ kinh doanh.

    hinh-anh-khai-niem-ban-hang-3

    • Hình thức bán buôn thông qua Catalogue

    Công nghệ này có đặc điểm là những nhà bán buôn gửi catalogue tới các khách hàng trong khu vực bán lẻ, khu vực sản xuất công nghiệp hoặc tới các cơ quan khác nhằm giới thiệu các mặt hàng kinh doanh. Hình thức này thường được áp dụng cho các mặt hàng như kim hoàn, mỹ phẩm, thực phẩm và đặc sản.

    Khách hàng chủ yếu của công nghệ này là các doanh nghiệp bán lẻ và các doanh nghiệp sản xuất ở các khu vực thị trường lân cận. Ưu điểm của công nghệ này là nó phản ánh sự hiện diện lâu dài, im lặng và chính xác, ngoài ra nó còn có ý nghĩa đối với khách hàng ở xa người bán thông qua đó giảm bớt sự cách biệt giữa người bán và người mua với vai trò cung cấp đầy đủ các thông tin cần thiết cho khách hàng về thông số kỹ thuật, giá cả, hình thức thanh toán… về sản phẩm. Nhưng cũng chính vì vậy mà nó thường gây nhầm lẫn cho khách hàng do không trực tiếp tiếp xúc với hàng hóa.

    • Hình thức bán buôn qua hội chợ triển lãm

    Đây là công nghệ bán mà các nhà bán buôn thương mại có thể tự tổ chức và tham gia hội chợ nhằm trưng bày mặt hàng mới, cải tiến, tiểu thủ công nghiệp… qua đó tiếp xúc với các tổ chức kinh doanh, giao dịch nhận đơn đặt hàng và ký kết mua bán.

    Công nghệ này cho phép người ta có thể quan sát diễn biến tình thế của thị trường với sản phẩm mà họ kinh doanh, có thể tiếp xúc với khách hàng tiềm năng, đối thoại với họ, nghe được những mong muốn và nhận xét của họ. Cuối cùng, nó cho phép các nhà bán buôn gặp gỡ được các nhà sản xuất sản phẩm bổ xung, những nhà tái thầu hoặc các nhà cung cấp tiềm năng.

    • Hình thức bán buôn qua đơn đặt hàng thương mại

    Trên thực tế đơn đặt hàng này chỉ phù hợp với các khách hàng thường xuyên quen thuộc của các nhà bán buôn vì trong nội dung của đơn đặt hàng, người ta phải nêu được cụ thể hàng hóa mà họ định mua và những nội dung cần thiết để ký kết hợp đồng mua bán. Nếu nhà bán buôn chấp thuận hoàn toàn đơn đặt hàng thì họ sẽ tiến hành ký kết hợp đồng, nếu không thì hai bên sẽ thương lượng lại, thỏa thuận và ký kết hợp đồng.

    Tất cả đều phải tuân theo một quy trình sau: Đầu tiên doanh nghiệp thương mại bán buôn nhận đơn đặt hàng sau đó xử lý đơn đặt hàng rồi thông báo kết quả xử lý đơn đặt hàng cho các khách hàng, tiếp theo là thương lượng ký kết hợp đồng mua bán, chuẩn bị các hóa đơn chứng từ hàng hóa rồi giao hàng, cuối cùng thanh toán và thanh lý hợp đồng mua bán.

    hinh-anh-khai-niem-ban-hang-4

    • Hình thức bán buôn qua đại lý đặc quyền

    Đây là một giao kèo mang tính hợp pháp xác định giữa chủ quyền và đại lý đặc quyền trong đó chỉ rõ nghĩa vụ và đặc quyền của mỗi bên. Một nhà đại lý độc quyền có thể đại diện cho hai hoặc nhiều nhà chủ quyền có các mặt hàng mang tính chất bổ sung cho nhau. Sự thỏa thuận giữa nhà chủ quyền và đại lý đặc quyền được thiết lập bằng văn bản trong đó qui định giá, khu vực hoạt động, việc bảo hành, thể thức xử lý đơn đặt hàng và mức hoa hồng.

    Đại lý đặc quyền chỉ được bán hàng trong phạm vi lãnh thổ qui định bởi nhà chủ quyền. Họ sử dụng hình thức này khi không có lực lượng bán riêng ở từng địa phương, để mở rộng khu vực hoạt động mới hoặc để đại diện cho nhà đặc quyền ở những nơi mà họ chưa có năng lực bán thường xuyên.

    Tóm lại, với các hình thức bán buôn đa dạng trong hoạt động bán buôn các nhà sản xuất, các DN có nhiều cách thức để lựa chọn sao cho phù hợp với khả năng và nguồn lực mà mình có và phù hợp với mục tiêu đã định.

    2.2. Hình thức bán lẻ

    Bán lẻ là hoạt động bán hàng trực tiếp cho người tiêu dùng cuối cùng nhằm thỏa mãn nhu cầu cá nhân, không mang tính thương mại. Các hình thức bán lẻ của doanh nghiệp thương mại gồm:

    • Hình thức bán hàng truyền thống (cổ điển)

    Mọi công việc bán và phục vụ khách hàng đều do nhân viên bán thực hiện, từ tiếp khách, xác định nhu cầu của họ đến bao gói, tính tiền và giao hàng. Ngoài ra, nhân viên bán hàng còn thực hiện một số nhiệm vụ như giới thiệu hàng hóa, hướng dẫn khách hàng trong việc chọn hàng và chuẩn bị hàng hóa để giao. Nơi công tác được ngăn cách giữa khách hàng và hàng hóa, khách hàng không được tự do đi lại tiếp xúc với hàng hóa.

    Công nghệ này thường được áp dụng với tất cả các loại hàng hóa, đặc biệt là với các mặt hàng nông sản thực phẩm có giá trị cao và những mặt hàng tiêu thụ tương đối chậm. Tuy nhiên, hạn chế của hình thức này là lực lượng lao động trong quá trình bán đông mà năng suất thấp, thời gian mua sắm của khách hàng bị kéo dài, bị lệ thuộc vào người bán nên sự thỏa mãn nhu cầu không cao.

    hinh-anh-khai-niem-ban-hang-5

    • Hình thức bán hàng tự phục vụ

    Đặc điểm của công nghệ này là hàng hóa được chuẩn bị chu đáo, sẵn sàng, được trưng bày để ngỏ ở các giá trưng bày và khách hàng sẽ chủ động trực tiếp tiếp cận hàng hóa mà mình định mua dưới sự định hướng gián tiếp hoặc trực tiếp của người bán.

    Với hình thức bán hàng này sẽ không có nhân viên giao hàng, khách hàng lựa chọn trên các giá hàng cho vào giỏ hoặc xe đẩy sau đó trả tiền tại quầy thu ngân được đặt ở lối ra vào của cửa hàng. Đặt biệt là không có sự phân biệt giữa diện tích dành cho khách và diện tích của người bán hàng (phòng bán hàng).

    • Hình thức bán hàng qua máy bán hàng tự động

    Là phương pháp sử dụng tự động thực hiện hai chức năng: nhận tiền và xuất hàng. Ưu điểm của công nghệ này là thỏa mãn nhu cầu người tiêu dùng ở mọi lúc, mọi nơi, ít có hàng hỏng nhưng giá bán hàng hóa đối với công nghệ này thường đắt hơn từ 15%-20% so với công nghệ bán khác vì chi phí đặt hàng hóa vào nhiều máy trên địa bàn rộng, máy bị hỏng thường xuyên, rủi ro, mất cắp.

    • Hình thức bán hàng qua bưu điện

    Phương pháp này phần lớn sử dụng điện thoại để chào mời khách hàng. Người bán sử dụng điện thoại vừa để mời khách hàng mua bán hàng hóa, vừa để quản lý nợ nần, kiểm tra hàng tồn kho, giao hàng cho khách hàng và thực hiện một số dịch vụ sau bán.

    Ưu thế của công nghệ này là đạt hiệu quả cao và nhanh chóng trong kinh doanh, nâng cao trình độ văn minh và hiệu quả phục vụ khách hàng. Tuy nhiên, công nghệ này đòi hỏi mức sống của người dân phải cao, phù hợp với các quốc gia đã phát triển.

    • Bán hàng qua hội chợ

    Hình thức này hiện nay rất phổ biến ở nước ta. Mục đích nguyên thủy của hội chợ triển lãm là giúp DN tìm kiếm khách hàng tiềm năng. Tuy nhiên, các nhà sản xuất, kinh doanh thương mại còn sử dụng hình thức này như là nơi để mở rộng bán lẻ, tăng doanh thu.

    • Bán hàng trên mạng Internet

    Đây là hình thức bán hàng hiện đại nhất hiện nay nhờ sự phát triển của công nghệ thông tin. Không cần những quầy hàng ở địa điểm cụ thể, người mua chỉ cần lựa chọn loại hàng hóa mà họ thích trên mạng Internet sau đó trả tiền qua thẻ tín dụng hoặc một tài khoản ở ngân hàng. Những hình thức này chỉ phù hợp với các quốc gia có mức sống phát triển.

    hinh-anh-khai-niem-ban-hang-6

    Bạn đang gặp khó khăn với bài luận (đại học, cao học) của mình? Quỹ thời gian hạn hẹp khiến bạn không thể đảm bảo hoàn thành tốt nhất bài luận của mình? Hãy tham khảo Dịch vụ viết thuê luận văn tại Luận Văn 24 – Chúng tôi cam kết sẽ mang tới cho bạn sản phẩm chất lượng nhất đạt được thành tích tốt nhất.

    3. Vai trò của hoạt động bán hàng

    Bản chất của bán hàng là sự chuyển hoá hình thái giá trị của hàng hoá từ hàng sang tiền. Bán hàng có vai trò rất quan trọng đối với cả khách hàng, doanh nghiệp và cả xã hội

    • Bán hàng là khâu quan trọng nhất trong quá trình tái sản xuất của doanh nghiệp

    Đặc điểm nổi bật của nền sản xuất hàng hoá là sản phẩm sản xuất ra là để trao đổi, mua bán, vì vậy trao đổi đã xuất hiện cùng với sự ra đời của sản xuất hàng hoá. Bán hàng nhằm thoả mãn nhu cầu của khách hàng về một giá trị sử dụng nhất định, là khâu cuối cùng có tính chất quyết định của quá trình hoạt động sản xuất kinh doanh

    Như vậy, hoạt động bán hàng có tầm quan trọng đặc biệt với bất kỳ một đơn vị sản xuất kinh doanh nào. Nếu càng mở rộng hoạt động bán hàng có hiệu quả, mở rộng hoạt mặt hàng, mở rộng các dịch vụ hỗ trợ bán hàng thì doanh nghiệp càng có nhiều khả năng thu được nhiều lợi nhuận.

    Do đó, vấn đề tổ chức hoạt động bán hàng là vấn đề cần được coi trọng thích đáng trong mỗi doanh nghiệp, đồng thời phải luôn luôn đổi mới và hoàn thiện vấn đề này cho phù hợp với cơ chế thị trường trong từng giai đoạn.

    • Bán hàng là khâu trung gian liên lạc thông tin giữa sản xuất và người tiêu dùng

    Đối với các doanh nghiệp, bán hàng là khâu cuối cùng trong khâu sản xuất kinh doanh nên nó quyết định sự thành bại của doanh nghiệp. Mọi hoạt động công tác khác đều nhằm mục đích là bán được hàng hoá và chỉ có bán hàng mới thực hiện được mục tiêu trước mắt đó là lợi nhuận, bởi vì lợi nhuận là chỉ tiêu chất lượng phản ánh kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp.

    Bán hàng là hoạt động vừa liên quan đến người sản xuất – người bán vừa liên quan đến người tiêu dùng – người mua. Qua hoạt động bán hàng doanh nghiệp có thể thu hút được đầy đủ, chính xác các thông tin về cung, cầu, giá cả, thị hiếu… của người tiêu dùng. Từ đó doanh nghiệp có thể tổ chức các hoạt động sản xuất kinh doanh những mặt hàng phù hợp, tạo điều kiện thuận lợi cho hoạt động bán hàng đạt hiệu quả cao hơn.

    Thực vậy khi người sản xuất bán được hàng trên thị trường có nghĩa là sản xuất của họ đã ăn khớp với nhu cầu của xã hội. Điều này có ý nghĩa hết sức quan trọng đối với người sản xuất hàng hoá, vì nó thể hiện sự thừa nhận của xã hội về lao động của người hàng hoá là có ích, nó tạo điều kiện cho doanh nghiệp có thể tồn tại và phát triển.

    Mặt khác hoạt động bán hàng được thực hiện thành công cho phép doanh nghiệp xây dựng được mối quan hệ mật thiết, có uy tín cao và tái tạo nhu cầu của người tiêu dùng đối với doanh nghiệp. Đây chính là vũ khí cạnh tranh của doanh nghiệp trên thị trường.

    hinh-anh-khai-niem-ban-hang-7

    • Bán hàng giúp phục vụ nhu cầu xã hội  

    Chúng ta biết rằng hàng hoá được sản xuất ra là để trao đổi, để bán, nhưng khi một hàng hoá được đem ra thị trường mua bán thì người mua và người bán quan tâm đến hàng hoá đó với những mục đích hoàn toàn khác nhau, mục đích của người bán là giá trị, họ có giá trị sử dụng nhưng họ cần giá trị.

    Ngược lại người mua rất cần giá trị sử dụng, nhưng họ phải có một giá trị tương đương để trao đổi với người bán thì mới sở hữu được giá trị của hàng hoá. Như vậy quá trình thực hiện giá trị và giá trị sử dụng là hai quá trình khác nhau về không gian và thời gian.

    Hàng hóa được sản xuất liên tục nhưng tiêu dùng không phải lúc nào cũng liên tục. thêm vào đó, hàng hóa được sản xuất ở một nơi nhưng được bán ở nhiều nơi. Bán hàng giúp cho hàng hóa được lưu chuyển từ nhà sản xuất đến người tiêu dùng, giúp luân chuyển hàng hóa từ nơi dư thừa sang nơi có nhu cầu.

    Từ những phân tích trên ta thấy vai trò của bán hàng là không thể phủ nhận. Vì thế, công tác bán hàng cần được chú trọng. Đặc biệt trong nền kinh tế thị trường, khi khách hàng được coi là “thượng đế” thì hoạt động bán hàng phải bám sát nhu cầu thị trường với phương châm phục vụ nhu cầu của khách hàng là mục tiêu trước tiên để có thể chiếm được lòng tin của khách hàng, để thu được nhiều lợi nhuận.

    Trên đây là bài viết tham khảo cung cấp kiến thức đầy đủ để bạn hiểu được khái niệm bán hàng, vai trò của bán hàng cũng như các hình thức bán hàng phổ biến hiện nay. Trong quá trình tìm hiểu, nếu có bất kì ý kiến thắc mắc xin liên hệ qua hotline 0988 55 2424 của Luận Văn 24 để được đội ngũ chuyên gia tư vấn giúp đỡ.

    Nguồn: Luanvan24.com

  • Đạo đức kinh doanh là gì? Nó có tầm quan trọng như thế nào?

    Đạo đức kinh doanh là gì? Nó có tầm quan trọng như thế nào?

    Đạo đức kinh doanh có tầm ảnh hưởng đáng kể đối với các doanh nghiệp. Nó không chỉ thay đổi cách các doanh nghiệp hoạt động hàng ngày mà còn ảnh hưởng đến pháp luật xung quanh các quy định của công ty. Bài viết dưới đây sẽ giúp bạn hiểu một cách chi tiết đạo đức kinh doanh là gì? Tại sao nó lại quan trọng và những ví dụ về nó để bạn có thể phát hiện ra các hành vi đạo đức và phi đạo đức ở nơi làm việc.

    Hinh-anh-dao-duc-kinh-doanh-la-gi-1
    Đạo đức kinh doanh là gì? Tầm quan trọng của đạo đức kinh doanh

    Đạo đức kinh doanh là gì?

    Theo Wikipedia, “Đạo đức kinh doanh là một tập hợp các nguyên tắc, chuẩn mực có tác dụng điều chỉnh, đánh giá, hướng dẫn và kiểm soát hành vi của các chủ thể kinh doanh. Đạo đức kinh doanh chính là phạm trù đạo đức được vận dụng vào hoạt động kinh doanh. Đạo đức không phải mơ hồ, nó thực sự gắn liền với lợi ích kinh doanh.”

    Nói một cách đơn giản, đạo đức kinh doanh là cách một doanh nghiệp nên hành động khi đối mặt với các tình huống khó xử về đạo đức hay các trường hợp gây tranh cãi. Ví dụ như: 

    • Việc thực hiện các chính sách và thông lệ kinh doanh phù hợp
    • Cách quản lý công ty
    • Giao dịch nội gián (là giao dịch cổ phiếu của công ty, có thể là hợp pháp hoặc bất hợp pháp tùy thuộc vào thời điểm người trong nội bộ thực hiện giao dịch)
    • Hối lộ
    • Phân biệt đối xử
    • Trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp
    • …

    Đặc điểm của đạo đức kinh doanh

    Đạo đức kinh doanh đã phát sinh từ những năm 1960 khi các tập đoàn nhận thức rõ hơn về một xã hội dựa trên người tiêu dùng đang phát triển, thể hiện mối quan tâm về môi trường, các nguyên nhân xã hội và trách nhiệm của doanh nghiệp. 

    Hinh-anh-dao-duc-kinh-doanh-la-gi-2
    Đặc điểm của đạo đức kinh doanh

    Đạo đức kinh doanh là một lĩnh vực rộng lớn bởi nó bao gồm rất nhiều chủ đề khác nhau nên nó được nghiên cứu từ nhiều góc độ khác nhau, từ triết học, khoa học cho đến pháp lý. Tuy nhiên, luật pháp đóng vai trò lớn nhất trong việc ảnh hưởng đến đạo đức kinh doanh từ trước cho đến nay.

    Khi lĩnh vực này được nghiên cứu mạnh mẽ, chính phủ bắt đầu lập pháp hóa các ý tưởng hàng đầu thành luật, do đó buộc các doanh nghiệp phải tuân thủ một số quy tắc và quy định được coi là có đạo đức.

    Nhiều doanh nghiệp tận dụng đạo đức kinh doanh không chỉ để giữ trong sạch từ góc độ pháp lý mà còn để nâng cao hình ảnh của họ trước công chúng. Nó thấm nhuần và đảm bảo sự tin tưởng với khách hàng và các doanh nghiệp hợp tác họ.

    Vai trò của đạo đức kinh doanh

    Sau khi hiểu đạo đức kinh doanh là gì, bạn sẽ thấy nó đóng vai trò quan trọng đối với các công ty. Đầu tiên, nó giữ cho doanh nghiệp hoạt động trong phạm vi luật pháp, đảm bảo rằng họ không phạm tội đối với nhân viên, khách hàng và các bên doanh nghiệp khác.

    Thứ hai, nhờ vào đạo đức kinh doanh, doanh nghiệp cũng có thể xây dựng lòng tin giữa họ với khách hàng. Nếu người tiêu dùng cảm thấy rằng một doanh nghiệp có thể được tin cậy, khả năng họ lựa chọn doanh nghiệp đó sẽ cao hơn các đối thủ cạnh tranh.

    Một số doanh nghiệp sử dụng các khía cạnh của đạo đức kinh doanh như một công cụ tiếp thị. Tận dụng đạo đức kinh doanh một cách khéo léo, khôn ngoan có thể giúp tăng giá trị thương hiệu cho doanh nghiệp.

    Thứ ba, doanh nghiệp có đạo đức sẽ dễ dàng thu hút các nhà đầu tư và cổ đông. Họ sẽ có nhiều khả năng đổ tiền vào công ty của bạn hơn, bởi việc tuân theo các thực hành kinh doanh có đạo đức chuẩn mực và tận dụng chúng đúng cách có thể là con đường dẫn đến thành công cho nhiều doanh nghiệp.

    Như vậy, ngoài việc giúp cho các nhân viên tận tâm hơn, đạo đức kinh doanh còn giúp công ty giảm được một khoản không nhỏ cho chi phí tuyển dụng.

    Hinh-anh-dao-duc-kinh-doanh-la-gi-3
    Đạo đức kinh doanh đóng vai trò quan trọng trong doanh nghiệp
    Hiện tại, Luận Văn 24 đang nhận viết thuê luận văn thạc sĩ, luận văn tốt nghiệp uy tín các đề tài thuộc lĩnh vực quản trị, kinh tế. Nếu bạn đang không có điều kiện để tự hoàn thành bài luận của mình, đừng ngần ngại mà hãy liên hệ với chúng tôi nhé. Đội ngũ chuyên gia dày dặn kinh nghiệm thuộc mọi lĩnh vực của chúng tôi sẽ giúp đỡ và hỗ trợ bạn.

    Ví dụ đạo đức trong kinh doanh

    Ví dụ về hành vi đạo đức

    Trong khi hiểu các nguyên tắc cơ bản của đạo đức kinh doanh là quan trọng, thì việc hiểu cách những ý tưởng này áp dụng vào hoạt động kinh doanh hàng ngày được cho là quan trọng hơn. Dưới đây là một số ví dụ về cách các hành vi đạo đức có thể được áp dụng trên thực tế.

    Đặt nhu cầu của khách hàng lên hàng đầu

    Các công ty xây dựng văn hóa nơi làm việc của họ xung quanh việc đặt nhu cầu của khách hàng lên hàng đầu. 

    Ví dụ như: nếu một khách hàng đến cửa hàng để tìm kiếm một sản phẩm đáp ứng các nhu cầu rất cụ thể, điều quan trọng là phải cung cấp cho họ sản phẩm tốt nhất cho tình huống được mô tả thay vì bán thêm hoặc khuyến khích họ mua một sản phẩm không đáp ứng được nhu cầu của họ. 

    Tuy nhiên, không phải bởi vì “khách hàng là thượng đế” mà doanh nghiệp đối xử phi đạo đức với nhân viên, chẳng hạn như: khuyến khích họ làm việc quá giờ cho phép, buộc họ phải chịu đựng sự lạm dụng từ khách hàng,…

    Minh bạch

    Giao tiếp minh bạch và rõ ràng là điều cần thiết khi nói đến các hành vi đạo đức tại nơi làm việc. Nhân viên không bao giờ được nói dối hoặc nói những điều không trung thực, vì điều này phá vỡ lòng tin trong doanh nghiệp. 

    Ví dụ, khi đối mặt với một cuộc khủng hoảng quan hệ công chúng, các công ty nên tổ chức một cuộc họp và giải quyết vấn đề trực tiếp với nhân viên của họ. Điều quan trọng là phải mô tả thực tế tình huống đang diễn ra, đưa ra giải pháp và khiêm tốn chấp nhận lời chỉ trích.

    Hinh-anh-dao-duc-kinh-doanh-la-gi-4
    Tính minh bạch trong đạo đức kinh doanh

    Tôn trọng thông tin khách hàng

    Nhiều doanh nghiệp thu thập thông tin cá nhân khách hàng của họ, cho dù đó là thông tin thanh toán, thông tin sức khỏe hoặc thông tin tương tự. Bất kỳ doanh nghiệp nào cũng phải chịu trách nhiệm về việc bảo mật và bảo vệ thông tin này. 

    Báo cáo hành vi phi đạo đức

    Nếu một nhân viên nhận thấy những hành vi phi đạo đức ở nơi làm việc, họ nên báo cáo về những hành vi này. Doanh nghiệp có trách nhiệm bảo mật danh tính của nhân viên đó để nhân viên khỏi bị tổn hại. 

    Ví dụ về hành vi phi đạo đức

    Lạm dụng thời gian của công ty

    Đây là một tình huống khó xử mà nhiều doanh nghiệp phải đối mặt. Nhiều nhân viên lạm dụng thời gian của công ty theo nhiều cách khác nhau, ví dụ như: lướt internet trong giờ làm việc, nghỉ giải lao kéo dài, thay đổi bảng thời gian hoặc tương tự,…

    Việc lạm dụng thời gian của công ty là trái đạo đức vì nhân viên đang được trả lương cho công việc mà họ không hoàn thành hoặc thời gian họ không cống hiến cho công việc của mình.

    Nuôi dưỡng một nơi làm việc thù địch

    Mặc dù chắc chắn sẽ có xung đột ở nơi làm việc, nhưng điều quan trọng là phải làm cho nơi làm việc trở thành một môi trường an toàn cho mọi người. Một số công ty vô tình xây dựng văn hóa công ty thù địch hoặc cạnh tranh quá mức. 

    Ví dụ, người sử dụng lao động có thể khuyến khích một môi trường cạnh tranh không lành mạnh giữa các nhân viên để thúc đẩy năng suất và đổi mới. Tuy nhiên, việc nuôi dưỡng loại môi trường này có thể đánh thuế sức khỏe tinh thần của nhân viên, và thậm chí khuyến khích hành vi phi đạo đức, phá hoại của những nhân viên muốn thăng tiến trong công việc.

    Hinh-anh-dao-duc-kinh-doanh-la-gi-5
    Nuôi dưỡng một nơi làm việc thù địch

    Bỏ qua xung đột lợi ích

    Xung đột lợi ích khuyến khích doanh nghiệp hành động theo những cách không có lợi cho khách hàng hoặc nhân viên của họ. 

    Ví dụ: nếu một người quản lý có người thân làm báo cáo trực tiếp cho họ, thì người quản lý đó có thể đối xử với người thân đó khác với các nhân viên còn lại. Nhiệm vụ của doanh nghiệp là phải giải quyết tình trạng này. Việc loại bỏ xung đột lợi ích có thể trở nên phức tạp hơn khi một doanh nghiệp được giao dịch công khai, phi lợi nhuận hoặc nhận tiền từ một tổ chức chính phủ.

    Tin cậy, tôn trọng và công bằng là những điều cần thiết nhất trong đạo đức kinh doanh. Hãy chắc chắn rằng bạn hiểu đạo đức kinh doanh là gì bởi chỉ có hiểu rõ bạn mới có thể xây dựng được một doanh nghiệp vững mạnh. 

    Nếu có bất kỳ thắc mắc nào về đạo đức trong kinh doanh, bạn có thể gọi đến hotline 0988 55 2424 hoặc gửi email đến địa chỉ luanvan24@gmail.com để được các chuyên gia hàng đầu tư vấn.

    Nguồn: Luanvan24.com

  • Cơ sở lý luận về công tác quản trị bán hàng trong doanh nghiệp

    Cơ sở lý luận về công tác quản trị bán hàng trong doanh nghiệp

    Vì vai trò quan trọng của bán hàng, hiệu quả bán hàng ngày càng được nâng cao với chi phí thấp nhất và lợi nhuận ngày càng tăng là mục tiêu mà bất cứ doanh nghiệp nào cũng theo đuổi. Để đạt được mục tiêu ấy, bất kỳ doanh nghiệp nào cũng cần quan tâm đến công tác quản trị bán hàng.

    hinh-anh-quan-tri-ban-hang-1

    1. Tổng quan quản trị bán hàng

    1.1. Khái niệm quản trị bán hàng

    “Quản trị bán hàng là hoạt động quản trị của những cá nhân thuộc đội ngũ bán hàng hoặc hỗ trợ trực tiếp cho đội ngũ bán hàng” (James M. Comer). Đó là quá trình bao gồm các hoạt động chính như xây dựng kế hoạch bán hàng, tổ chức triển khai bán hàng và kiểm soát bán hàng nhằm đạt được mục tiêu của doanh nghiệp.

    Như vậy, quản trị bán hàng là một tiến trình kết hợp chặt chẽ từ việc thiết lập mục tiêu cho nhân viên bán hàng, thiết kế chiến lược đến việc tuyển dụng, huấn luyện, giám sát và đánh giá kết quả thực hiện công việc của nhân viên bán hàng.

    1.2. Mục tiêu của quản trị bán hàng

    Hoạt động quản trị bán hàng đóng vai trò quan trọng giúp cho doanh nghiệp tiếp cận thị trường nhằm thuyết phục khách hàng mua, sử dụng và trung thành với sản phẩm. Các doanh nghiệp thành công trong lĩnh vực bán hàng đều có những mục tiêu rõ ràng trong quản trị bán hàng và chiến lược để đạt được mục tiêu đó. Mục tiêu quản trị bán hàng ở từng giai đoạn, từng ngành hàng là khác nhau song chủ yếu nhắm đến hai mục tiêu sau:

    • Mục tiêu về nhân sự

    Mục tiêu này liên quan đến quá trình tuyển chọn nhân sự với những tiêu chuẩn được xây dựng rõ ràng, kỹ lưỡng nhằm xây dựng một đội ngũ bán hàng chuyên nghiệp, năng động, hoàn thành tốt nhiệm vụ cũng như khả năng sáng tạo trong bán hàng.

    Do đó nhiệm vụ của nhà quản trị bán hàng phải tuyển dụng và đào tạo một đội ngũ bán hàng hiệu quả, có chính sách khen thưởng hợp lý, xây dựng mối quan hệ bền vững với nhân viên. Sự phối hợp nhịp nhàng và tinh thần làm việc tập thể với năng suất cao sẽ đem lại thành công cho bộ phận bán hàng.

    • Mục tiêu về doanh số, lợi nhuận

    Mục tiêu tiếp theo mà nhà quản trị bán hàng hướng đến là mục tiêu về doanh số, lợi nhuận. Mục tiêu về doanh số được thể hiện bằng giá trị, doanh số hay thị phần… Mục tiêu về doanh số và lợi nhuận là thước đo thực tế đánh giá năng lực và hiệu quả trong công tác quản trị bán hàng.

    Để đạt được mục tiêu về doanh số thì ngay từ người giám sát ở cấp thấp nhất cũng phải đôn đốc nhân viên và có chiến lược hành động cụ thể. Bên cạnh đó người quản trị cấp cao cần có những cách thức kiểm soát cho các cấp dưới. Như vậy, mục tiêu chung của công ty về doanh số và lợi nhuận mới được phát huy hiệu quả qua từng thời kỳ.

    1.3. Ý nghĩa của quản trị bán hàng

    Việc quản trị hoạt động bán hàng sẽ giúp doanh nghiệp thực hiện tốt các mục tiêu hoạt động kinh doanh nói chung và hoạt động bán hàng nói riêng trên cơ sở đẩy mạnh tiêu thụ, thu hút khách hàng nhằm chiếm lĩnh thị trường, nâng cao vị thế cạnh tranh và uy tín của DN, tạo điều kiện phối hợp chặt chẽ giữa các hoạt động quản trị như quản trị mua, bán và dự trữ hàng hóa.

    Ngoài ra, còn giúp DN nâng cao tính chủ động trong hoạt động kinh doanh trên cơ sở xây dựng và tổ chức các phương án bán hàng cho phù hợp với từng tình huống, từng thương vụ. Quản trị bán hàng có các ý nghĩa cơ bản sau:

    Thứ nhất, quản trị bán hàng đảm bảo xây dựng và thực hiện được mục tiêu bán hàng của Doanh nghiệp trên cơ sở dự báo thị trường. Nhà quản trị bán hàng xác định rõ mục tiêu bán hàng của doanh nghiệp trong từng giai đoạn và nỗ lực thực hiện mục tiêu đó.

    Thứ hai, quản trị bán hàng đảm bảo phát triển được mạng lưới bán hàng phù hợp với chiến lược kinh doanh của doanh nghiệp.

    Thứ ba, quản trị bán hàng đảm bảo xây dựng được một lực lượng bán hàng có chuyên môn, có kỹ năng, có phẩm chất, có động cơ làm việc và có thành tích tốt.

    Thứ tư, quản trị bán hàng đảm bảo nắm bắt và điều chỉnh được các hoạt động bán hàng của doanh nghiệp sát với tình hình biến động của thị trường.

    hinh-anh-quan-tri-ban-hang-2

    2. Các nhân tố ảnh hưởng đến công tác quản trị bán hàng

    2.1. Ảnh hưởng từ môi trường vĩ mô

    Sự ảnh hưởng từ môi trường vĩ mô gồm các yếu tố: Môi trường kinh tế, xã hội, chính trị, luật pháp, dân số, khoa học công nghệ. Ảnh hưởng từ môi trường vĩ mô mang tính gián tiếp song lại rất quan trọng không chỉ ảnh hưởng tới hoạt động quản trị bán hàng của DN mà còn ảnh hưởng tới toàn bộ DN.

    Môi trường kinh tế thuận lợi sẽ thúc đẩy hoạt động sản xuất kinh doanh và việc bán hàng sẽ thuận lợi ngược lại khi môi trường kinh tế khó khăn đặc biệt là khủng hoảng kinh tế sẽ ảnh hưởng không nhỏ tới việc tiêu thụ sản phẩm và đòi hỏi những nỗ lực lớn trong hoạt động bán hàng.

    Ảnh hưởng từ môi trường luật pháp có thể làm tăng hoặc giảm mức độ cạnh tranh hay sự phát triển khoa học công nghệ kéo theo những hình thức bán hàng mới ra đời buộc các công ty phải có những thay đổi lớn trong quản trị bán hàng nếu không muốn trở nên lạc hậu và kém cạnh tranh so với đối thủ.

    Hiện nay nước ta đang trong quá trình hội nhập kéo theo đó là những thay đổi lớn về môi trường kinh tế, luật pháp, khoa học kỹ thuật. Những thay đổi đó sẽ ảnh hưởng lớn tới các doanh nghiệp cũng như trong hoạt động bán hàng. Việc theo dõi phân tích ảnh hưởng từ môi trường vĩ mô không chỉ giúp các doanh nghiệp thích ứng với những thay đổi mà còn nhận ra nhiều cơ hội phát triển và mở rộng kinh doanh.

    2.2. Ảnh hưởng từ môi trường vi mô

    Nếu môi trường vĩ mô ảnh hưởng gián tiếp tới hoạt động quản trị bán hàng thì môi trường vi mô lại ảnh hưởng trực tiếp, liên tục và thường xuyên đòi hỏi công ty luôn chủ động đối phó. Những yếu tố từ môi trường vi mô ảnh hưởng rõ nét nhất là các yếu tố:

    Sự cạnh tranh gay gắt từ cách đối thủ cạnh tranh đặc biệt là trong hoạt động bán hàng. Các đối thủ cạnh tranh luôn xây dựng những chiến lược bán hàng mới nhằm mở rộng thị trường thậm chí là lôi kéo khách hàng của công ty. Điều này ảnh hưởng rất lớn và đe dọa tới thị trường và khách hàng của DN.

    Ngày nay sức mạnh của khách hàng ngày càng tăng đây là một điều dễ thấy khi mà thị trường đang cạnh tranh khốc liệt với nhiều người bán và thị trường hạn chế. Điều này sẽ ảnh hưởng tới hoạt động sản xuất kinh doanh của mỗi công ty đặc biệt là trong việc quản trị bán hàng. Nhà quản trị sẽ phải nỗ lực nhiều hơn nhằm thỏa mãn yêu cầu khách hàng cũng như đảm bảo lợi ích của công ty đồng thời phải tăng khả năng cạnh tranh với đối thủ.

    Đây là những yếu tố ảnh hưởng rõ nét nhất tới hoạt động bán hàng của công ty. Bên cạnh đó còn một số yếu tố cũng ảnh hưởng không nhỏ như: ảnh hưởng từ sức mạnh nhà cung cấp làm cho giá sản phẩm trở nên cao hơn, những đối thủ cạnh tranh tiềm ẩn sẵn sàng cạnh tranh với nguồn lực và công nghệ được chuẩn bị tốt… Sự ảnh hưởng trực tiếp từ môi trường vi mô đòi hỏi công ty không ngừng đổi mới và hoàn thiện trong hoạt động bán hàng, theo sát thị trường và chủ động đối phó nhằm bảo vệ thị trường và phát triển lâu dài.

    hinh-anh-quan-tri-ban-hang-3

    2.3. Ảnh hưởng từ môi trường nội bộ

    Môi trường nội bộ doanh nghiệp cũng là một yếu tố ảnh hưởng không nhỏ tới hiệu quả hoạt động quản trị bán hàng, có một số nhân tố chủ yếu sau:

    • Mục tiêu, chiến lược phát triển kinh doanh của doanh nghiệp

    Tác động mạnh mẽ đến công tác quản trị bán hàng. Doanh nghiệp không phải lúc nào cũng mở rộng quy mô, hay có những chiến lược phát triển kinh doanh để lại hiệu quả. Chính mục tiêu và chiến lược quyết định hướng phát triển của DN. Từ đó, nó đặt ra những yêu cầu cho bộ phận bán hàng trong thời gian tới và cũng như quyết định hình thức, các chiến lược bán hàng, kinh phí quảng bá sản phẩm…

    • Trình độ của đội ngũ quản trị bán hàng

    Trình độ của đội ngũ quản trị bán hàng là một phần quyết định đến hiệu quả quản trị bán hàng. Nếu tổ chức có đội ngũ quản trị bán hàng chất lượng kém thì hoạt động bán hàng sẽ gặp khó khăn ngay từ ban đầu. Nhà quản trị kém sẽ lên kế hoạch bán hàng không hợp lý; tuyển dụng không đúng người hay đánh giá không chính xác. Ngược lại một đội ngũ phụ trách mảng bán hàng có trình độ, có kinh nghiệm và linh hoạt sẽ giúp DN có hiệu quả bán hàng cao nhất.

    • Các nguồn lực của doanh nghiệp

    Tài chính, tài sản, uy tín của DN trên thị trường,…sẽ quyết định hướng mà DN định đầu tư cho công tác bán hàng. Đồng thời, nó cũng sẽ quyết định hình ảnh của DN trong khách hàng. Nếu DN có uy tín, có nhiều kinh phí cho quảng bá sản phẩm thì sản phẩm được biết đến nhiều hơn, hoạt động bán hàng cũng như quản trị bán hàng cũng thuận lợi hơn.

    • Khả năng cạnh tranh của doanh nghiêp trên thị trường

    Một DN có uy tín và vị thế trên thị trường, có khả năng cạnh tranh cao sẽ quản trị bán hàng dễ dàng hơn các DN khác. Ngược lại, một DN còn non trẻ, sức cạnh tranh kém, nguồn tài chính có hạn sẽ gặp nhiều vấn đề hơn trong quá trình hoạch định, ra chiến lược và thực hiện các hoạt động quản trị bán hàng.

    Trên đây là những nhân tố chủ yếu làm ảnh hưởng tới công tác quản trị bán hàng của DN. Để đưa ra những giải pháp nâng cao hiệu quả quản trị bán hàng, các DN cần nghiên cứu xem xét một cách kỹ lưỡng sự ảnh hưởng của từng nhân tố và tìm ra nguyên nhân của những mặt tồn tại trong hoạt động bán hàng, từ đó mà tìm các giải pháp khắc phục.

    hinh-anh-quan-tri-ban-hang-4

    Bạn đang làm tiểu luận đề tài liên quan đến Quản trị bán hàng của doanh nghiệp? Bạn không có nhiều thời gian và gặp khó khăn trong việc tìm kiểu tài liệu, dữ liệu liên quan? Đừng lo lắng mà hãy tham khảo ngay Dịch vụ viết tiểu luận thuê của Luận Văn 24. Với kinh nghiệm và đội ngũ trình độ cao, chúng tôi cam kết sẽ mang đến cho bạn nhiều lợi ích nhất.

    3. Cơ sở nâng cao hiệu quả quản trị bán hàng

    3.1. Chiến lược tổng thể doanh nghiệp

    Giữa chiến lược tổng thể và quản trị bán hàng có mối tương quan chặt chẽ. Để xây dựng và phát triển hệ thống quản trị bán hàng thì cấp quản lý phải nắm rõ chiến lược tổng thể và cách thức tham gia vào chiến lược chung của công ty.

    Chiến lược quản trị bán hàng là một phần trong toàn bộ chiến lược chung của toàn Doanh nghiệp. Do đó chiến lược tổng thể có ảnh hưởng rất lớn tới hiệu quả trong công tác quản trị bán hàng và là một trong những cơ sở góp phần nâng cao hiệu quả quản trị bán hàng.

    Một chiến lược tổng thể được đưa ra một cách khoa học, hợp lý và phối hợp được toàn bộ nguồn lực doanh nghiệp để thực hiện chiến lược sẽ là tiền đề và là cơ sở cho các chiến lược cấp chức năng thực hoàn thiện trong đó có hoạt động quản trị bán hàng.

    3.2. Phân tích môi trường

    Công tác quản trị bán hàng không thể tách rời giữa con người với tổ chức, doanh nghiệp với môi trường kinh doanh. Nhìn chung, khi doanh nghiệp hoạt động tại các thị trường cụ thể, nó sẽ chịu sự tác động từ các yếu tố của môi trường như chính sách pháp lý, dân số, khoa học công nghệ.

    Do vậy các hoạt động quản trị bán hàng phải được thiết lập và tiến hành theo hướng phù hợp và hiệu quả nhất.

    hinh-anh-quan-tri-ban-hang-5

    Nguồn: James M. Comer (2008), Quản trị bán hàng [5,10]

    Nhìn vào sơ đồ ta thấy hoạt động quản trị bán hàng chịu sự tác động bởi môi trường bên ngoài và bên trong.

    Yếu tố bên ngoài bao gồm các yếu tố như chính trị, luật pháp, kinh tế, văn hóa, tình hình cạnh tranh. Việc thay đổi trong chính sách pháp luật điều chỉnh hoạt động kinh doanh và ngành hàng sẽ làm cho doanh nghiệp cũng phải thay đổi theo và từ đó tác động đến công tác quản trị bán hàng.

    Yếu tố bên trong bao gồm các phòng ban trong công ty và mối quan hệ ngay trong nội bộ doanh nghiệp mà cụ thể ở đây là bộ phận bán hàng. Sự phối hợp nhịp nhàng giữa các phòng như phòng nhân sự, phòng kế toán, bộ phận sản xuất… với phòng bán hàng sẽ làm tăng khả năng cung ứng hàng hóa dịch vụ của doanh nghiệp và có ảnh hưởng mạnh mẽ đến việc hoạch định chính sách bán hàng.

    Do đó việc phân tích môi trường sẽ góp phần quan trọng trong việc xây dựng chính sách bán hàng, xây dựng và quản lý lực lượng bán hàng và cũng là một trong những cơ sở cho việc nâng cao hiệu quả của công tác quản trị bán hàng.

    3.3. Một số kỹ năng quản trị bán hàng hiệu quả

    Để nâng cao hiệu quả công tác quản trị bán hàng thì bên cạnh chiến lược tổng thể doanh nghiệp, phân tích môi trường thì cần phải có những kỹ năng trong việc công tác quản trị bán hàng một cách hiệu quả. Một số kỹ năng cần thiết góp phần nâng cao hiệu quả công tác quản trị bán hàng là:

    • Kỹ năng hoạch định

    Hoạch định là một kỹ năng quan trọng trong hoạt động quản trị bán hàng. Hoạch định giúp cho nhà quản trị vạch ra những kế hoạch và chương trình hành động cũng như biết được thời điểm bắt đầu, thời điểm kết thúc một cách hiệu quả. Bên cạnh đó hoạch định còn giúp cho nhà quản trị xây dựng các chiến lược hành động cũng như nắm bắt được toàn bộ quy trình nhằm thực hiện mục tiêu bán hàng đề ra.

    • Kỹ năng quản lý địa bàn

    Trong kinh doanh mà đặc biệt là trong khâu tổ chức bán hàng thì việc xác định địa bàn và quản lý địa bàn là nhiệm vụ quan trọng ảnh hưởng tới doanh số bán hàng cũng như việc khai thác tối đa tiềm năng của mỗi khu vực. Hoạt động quản trị bán hàng bao hàm trong đó là quản trị từng khu vực địa bàn. Mỗi khu vực địa bàn bao gồm: khách hàng là nguồn tạo ra doanh số và đối thủ là người cạnh tranh với công ty.

    Việc quản lý địa bán hiệu quả sẽ góp phần quan trọng trong việc quản lý khách hàng tức là quản lý nguồn doanh thu của DN đồng thời giám sát những đối thủ nhằm có những chính sách đề phòng và ứng phó kịp thời trước sự cạnh tranh đến từ đối thủ.

    • Kỹ năng lãnh đạo và động viên

    Bên cạnh kỹ năng quản trị thì kỹ năng lãnh đạo cũng góp phần quan trọng trong việc quản lý hiệu quả tổ chức bán hàng. Nếu như các kỹ năng quản trị thiên về các nguyên tắc, hành động, kết quả và thực hiện theo những kế hoạch đề ra còn lãnh đạo là quan hệ với con người và thích ứng với sự thay đổi.

    Hai kỹ năng này không xung khắc mà nó hỗ trợ bổ sung cho nhau giúp vận hành một tổ chức bán hàng hoạt động một cách hiệu quả vừa theo quy trình vừa thay đổi để thích ứng.

    4. Nội dung công tác quản trị bán hàng

    Công tác quản trị bán hàng là một quá trình phức tạp với nhiều công việc và cách thực hiện khác nhau. Việc xây dựng một quy trình quản trị bán hàng hoàn thiện sẽ là một nhân tố quan trọng tạo điều kiện thuận lợi khi triển khai các kế hoạch bán hàng. Nội dung công tác quản trị bán hàng có thể được mô tả bằng sơ đồ sau:

    hinh-anh-quan-tri-ban-hang-6

    4.1. Xây dựng mục tiêu bán hàng

    Xây dựng mục tiêu bán hàng là một trong những công việc đầu tiên và quan trọng nhất trong hoạt động quản trị bán hàng. Mục tiêu bán hàng là kết quả cụ thể về bán hàng mà DN mong muốn đạt đến trong một thời ký nhất định. Xây dựng mục tiêu bán hàng thường xoay quanh ba mục tiêu chính sau:

    • Mục tiêu về doanh số – sản lượng
    • Mục tiêu về thị phần
    • Mục tiêu về lợi nhuận

    Bên cạnh đó người ta còn xây dựng các mục tiêu tổng hợp như: mục tiêu doanh số và lợi nhuận, mục tiêu thị phần và sản lượng. Mục tiêu bán hàng được xây dựng theo hai quy trình:

    • Quy trình từ trên xuống: Mục tiêu được các cấp cao quy định sau đó được phân bổ xuống cho các cấp dưới; cấp cuối cùng là cấp cơ sở.
    • Quy trình quản trị theo mục tiêu MBO: Mỗi bộ phận bán hàng trực tiếp xác định mục tiêu bán hàng và triển khai thực hiện mục tiêu đó. Các mục tiêu này sẽ được cấp cao hơn tổng hợp.

    Dù lập theo quy trình nào, mục tiêu bán hàng của DN phải luôn tuân thủ theo nguyên tắc SMART: Cụ thể (Specific), đo lường được (Measureable), có thể đạt được (Achievable), tính hiện thực (Realistic) và kịp thời (Timely). Các mục tiêu bán hàng thường được lượng hóa thành các chỉ tiêu cụ thể về: khối lượng bán hàng, doanh số, lợi nhuận…

    4.2. Hoạch định chiến lược bán hàng

    Việc hoạch định chiến lược bán hàng sẽ giúp doanh nghiệp hoàn thành mục đích, mục tiêu đã đặt ra một cách hiệu quả nhất thông qua việc sử dụng hợp lý nguồn lực, phối hợp sự tham gia của mọi người và tạo sự khác biệt so với đối thủ. Một số chiến lược bán hàng phổ biến là:

    • Chiến lược nguồn hàng
    • Chiến lược cạnh tranh
    • Chiến lược bán hàng cá nhân
    • Chiến lược bán hàng theo nhóm
    • Chiến lược bán hàng tư vấn
    • Chiến lược gia tăng giá trị

    Bên cạnh đó các nhà quản trị còn sử dụng một số chiến lược khác như: chiến lược bán hàng thương thảo, bán hàng liên kết…Việc hoạch định chiến lược bán hàng còn tùy thuộc vào trình độ, năng lực của lực lượng bán hàng và ngân sách dành cho chiến lược bán hàng.

    4.3. Xây dựng cấu trúc tổ chức lực lượng bán hàng

    Cơ cấu tổ chức lực lượng bán hàng là sự phân bổ, sắp xếp nhân sự bán hàng một cách hợp lý căn cứ vào khả năng, kinh nghiệm, tính cách nhân viên nhằm thực hiện chiến lược bán hàng một cách hiệu quả mang lại lợi ích cho doanh nghiệp. Tùy điều kiện cụ thể mà các DN có thể lựa chọn cho mình các phương thức tổ chức lực lượng bán hàng sau đây:

    • Tổ chức lực lượng bán hàng theo khu vực địa lý

    Đây là cách thức phân bổ theo vùng lãnh thổ. Mỗi vùng sẽ có người chịu trách nhiệm chung về lợi nhuận, quản lý và điều hành mọi hoạt động tại khu vực. Điều này đòi hỏi người quản lý phải có trình độ , năng lực cao. Dưới người quản lý theo vùng hay khu vực là các nhân viên bán hàng được phân công phụ trách và tiến hành hoạt động tại các khu vực cụ thể.

    hinh-anh-quan-tri-ban-hang-7

    • Tổ chức lực lượng bán hàng theo sản phẩm

    Cơ cấu của lực lượng bán hàng được tổ chức theo sản phẩm hay ngành hàng của doanh nghiệp. Điều này có nghĩa là nhân viên bán hàng sẽ được huấn luyện chu đáo về ngành hàng hay sản phẩm mà mình phụ trách.

    hinh-anh-quan-tri-ban-hang-8

    • Tổ chức lực lượng bán hàng theo khách hàng

    Đây là cơ cấu tổ chức dựa trên các đặc điểm của khách hàng như quy mô, hành vi tiêu dùng và yêu cầu về sử dụng sản phẩm. Cơ cấu tổ chức này ngày một trở nên phổ biến. Để thích ứng với thị trường một cách tốt nhất thì lực lượng bán hàng phải nắm rõ đặc điểm của khách hàng, những yêu cầu đặc biệt và đồi hỏi khác nhau của từng nhóm khách hàng.

    hinh-anh-quan-tri-ban-hang-9

    • Tổ chức lực lượng bán hàng theo cơ cấu hỗn hợp

    Đây là cơ cấu kết hợp giữa việc chuyên môn hóa lực lượng bán hàng theo ngành và khu vực địa lý hoặc kết hợp giữa phân bổ nhân viên dựa trên đặc điểm của khách hàng và vùng địa lý. Mô hình này sẽ tối ưu hóa được những dịch vụ và chất lượng phục vụ khách hàng.

    hinh-anh-quan-tri-ban-hang-10

    Mỗi cách tổ chức đều có ưu, nhược điểm riêng. Các DN cần căn cứ vào tính chất ngành hàng, quy mô và chiến lược phát triển để lựa chọn mô hình tổ chức lực lượng bán hàng phù hợp.

    4.4. Tuyển dụng và đào tạo nhân viên bán hàng

    Tuyển dụng và đào tạo nằm trong mục tiêu về nhân sự trong quản trị bán hàng. Mục tiêu là xây dựng một đội ngũ bán hàng chuyên nghiệp, hiệu quả và không ngừng đào tạo nhằm nâng cao năng lực đội ngũ nhân viên và thích ứng với sự thay đổi của thị trường.

    Do đó nhà quản trị phải xây dựng một quy trình tuyển dụng nhân viên sao cho có thể tìm được những nhân viên có khả năng và lên chương trình đào tạo có trọng tâm và phù hợp với tình hình mới.

    4.5. Phân bổ chỉ tiêu và triển khai kế hoạch bán hàng

    Đây chính là phần triển khai toàn bộ những mục tiêu, chiến lược thông qua lực lược bán hàng hướng vào thị trường. Để triển khai một kế hoạch bán hàng thành công cần phải làm một số công việc sau:

    • Phân bổ chỉ tiêu bán hàng như: doanh số, thị phần, sản lượng hợp lý
    • Xây dựng chiến lược kênh phân phối hiệu quả
    • Tổ chức bán hàng qua kênh phân phối
    • Động viên tinh thành nhân viên

    Để triển khai kế hoạch bán hàng thành công thì không chỉ làm theo những gì đã được xây dựng, hoạch định từ trước mà phải luôn thích ứng với thị trường. Trong thực tế có rất nhiều tác nhân ảnh hưởng tới kết quả mà doanh nghiệp không biết trước được.

    Do đó một mặt doanh nghiệp phải thực hiện theo những chiến lược mục tiêu đề ra nhưng cũng có những thay đổi kịp thời phù hợp với từng hoàn cảnh. Có như vậy việc triển khai kế hoạch bán hàng mới đem lại hiệu quả cao nhất.

    4.6. Giám sát đánh giá hiệu quả bán hàng

    Giám sát và đánh giá hiệu quả bán hàng là một trong những nhiệm vụ chính của nhà quản trị bán hàng. Việc giám sát và đánh giá nhằm đánh giá mức độ hài lòng của khách hàng, đồng thời đánh giá mức độ thành công trong công tác bán hàng.

    Bên cạnh đó việc giám sát còn nhằm phát hiện ra những tình huống bất lợi, các tình huống chưa phù hợp nhằm kịp thời khắc phục. Giám sát và đánh giá hiệu quả bán hàng thường được thực hiện thông qua các biểu mẫu, các báo cáo từ nhân viên trên cơ sở phân tích doanh thu, mức độ hài lòng của khách hàng, thị phần.

    Tóm lại mục đích chính của công tác giám sát và đánh giá chính là đánh giá kết quả bán hàng so với mục tiêu đề ra.

    hinh-anh-quan-tri-ban-hang-11

    4.7. Chăm sóc khách hàng

    Ngày nay, chăm sóc khách hàng không chỉ là thể hiện sự quan tâm, trách nhiệm, xây dựng mối quan hệ lâu dài với khách hàng mà chăm sóc khách hàng còn là một công cụ làm tăng khả năng cạnh tranh cho doanh nghiệp. Do đó, việc chăm sóc khách hàng cần phải thực hiện nghiêm túc và có kế hoạch.

    Để làm được điều này, nhà quản trị bán hàng cần xây dựng các chính sách, chương trình chăm sóc khách hàng và đo lường sự thỏa mãn mãn khách hàng để có những điều chỉnh phù hợp. Doanh nghiệp không ngừng hoàn thiện chương trình chăm sóc khách hàng, đồng thời không ngừng đổi mới để tạo sự khác biệt và tốt hơn so với đối thủ. Điều này sẽ là một yếu tố quan trọng nâng cao khả năng cạnh tranh và thu hút khách hàng.

    Tóm lại một quy trình quản trị bán hàng hiệu quả không chỉ là thực hiện đầy đủ các nội dung mà còn phải liên tục hoàn thiện và thực hiện một cách tốt nhất . Để mang lại hiệu quả trong công tác quản trị bán hàng mỗi doanh nghiệp cần xây dựng những mục tiêu, các chiến lược để hoàn thành mục tiêu đó một cách hiệu quả nhằm đạt được hai mục tiêu quan trọng đó là mục tiêu con người và mục tiêu lợi nhuận qua đó thỏa mãn nhu cầu của khách hàng và doanh nghiệp.

    Trên đây là bài viết tham khảo cung cấp kiến thức đầy đủ để bạn hiểu được khái niệm quản trị bán hàng, mục tiêu và ý nghĩ của nó. Bên cạnh đó là nội dung công tác và các yếu tố ảnh hưởng đến quản trị bán hàng. Trong quá trình tìm hiểu, nếu có bất kì ý kiến thắc mắc xin liên hệ qua hotline 0988 55 2424 của Luận Văn 24 để được đội ngũ chuyên gia tư vấn giúp đỡ.

    Nguồn: Luanvan24.com

  • Phân tích đặc điểm của dịch vụ ngân hàng bán lẻ tại Việt Nam

    Phân tích đặc điểm của dịch vụ ngân hàng bán lẻ tại Việt Nam

    Dịch vụ ngân hàng bán lẻ là một cách nhìn hoàn toàn mới về thị trường tài chính, qua đó phần đông những người lao động nhỏ lẻ sẽ được tiếp cận với các sản phẩm dịch vụ ngân hàng, tạo ra một thị trường tiềm năng đa dạng. Trong bài viết này, Luận Văn 24 sẽ giúp bạn hiểu rõ đặc điểm của dịch vụ ngân hàng bán lẻ.

    hinh-anh-dich-vu-ngan-hang-ban-le-1

    1. Dịch vụ ngân hàng bán lẻ là gì?

    Thị trường bán lẻ là một cách nhìn hoàn toàn mới về thị trường tài chính, qua đó phần đông những người lao động nhỏ lẻ sẽ được tiếp cận với các sản phẩm dịch vụ ngân hàng, tạo ra một thị trường tiềm năng đa dạng và năng động. Hiện nay có nhiều khái niệm về dịch vụ ngân hàng bán lẻ theo nhiều cách tiếp cận khác nhau.

    Tiếp cận theo đối tượng khách hàng, dịch vụ ngân hàng bán lẻ được định nghĩa là  “những hoạt động giao dịch của ngân hàng với khách hàng là cá nhân và các doanh nghiệp vừa và nhỏ” (Tài liệu hội nghị “Chiến lược phát triển dịch vụ ngân hàng bán lẻ Ngân hàng Ngoại thương Việt Nam” – 11/2003).

    Ngoài ra các chuyên gia của Ngân hàng Ngoại thương cũng chỉ ra rằng “dịch vụ ngân hàng bán lẻ là những hoạt động giao dịch trong phạm vi giá trị từ vài trăm nghìn đến vài chục triệu đồng”.

    Tiếp cận theo đặc trưng ở kênh phân phối sản phẩm dịch vụ, thuật ngữ “bán lẻ ” trong thương mại vốn được hiểu là việc cung cấp các sản phẩm đến tận tay người tiêu dùng cuối cùng qua các đại lí phân phối.

    Đối với ngân hàng, thuật ngữ “ngân hàng bán lẻ” có thể hiểu là: “Việc cung ứng sản phẩm dịch vụ ngân hàng tới từng cá nhân riêng lẻ, các doanh nghiệp vừa và nhỏ thông qua mạng lưới các chi nhánh hoặc là khách hàng có thể tiếp cận trực tiếp với sản phẩm, dịch vụ ngân hàng thông qua các phương tiện công nghệ thông tin, điện tử viễn thông” (Học viện công nghệ Châu Á – AIT).

    2. Đặc điểm của dịch vụ ngân hàng bán lẻ

    • Đối tượng khách hàng là các cá nhân, hộ gia đình, các Doanh nghiệp vừa và nhỏ

    Đặc điểm đầu tiên và cũng dễ nhận biết khi tiếp cận dịch vụ ngân hàng bán lẻ, đó là đối tượng của dịch vụ này là khách hàng cá nhân, thể nhân, các doanh nghiệp vừa và nhỏ

    Nhóm khách hàng này có một đặc điểm dễ nhận thấy nhất là thị trường không đồng nhất. Sự không đồng nhất được thể hiện trước hết ở chỗ: khách hàng của dịch vụ ngân hàng bán lẻ bao gồm cả đối tượng khách hàng cá nhân và khách hàng doanh nghiệp trong khi đối tượng khách hàng của dịch vụ ngân hàng bán buôn chỉ là khách hàng doanh nghiệp.

    hinh-anh-dich-vu-ngan-hang-ban-le-2

    • Các khách hàng của dịch vụ ngân hàng bán lẻ trong cùng một nhóm cũng không đồng nhất với nhau

    Đối với nhóm khách hàng cá nhân, các cá nhân  khác nhau về mức thu nhập, mức tiêu dùng, vị trí xã hội, lối sống, lứa tuổi, dân tộc, thói quen, sở thích…sẽ có những phản ứng riêng cũng như nhu cầu riêng với các sản phẩm trên thị trường nói chung và sản phẩm dịch vụ ngân hàng nói riêng.

    Đối với nhóm khách hàng là các thể nhân hoặc các các doanh nghiệp vừa và nhỏ khác nhau về lĩnh vực hoạt động, quy mô doanh nghiệp, địa bàn hoạt động thì nhu cầu đối với các dịch vụ ngân hàng bán lẻ cũng rất khác nhau.

    Chính vì vậy, để có thể thành công trên thị trường này đòi hỏi các ngân hàng cũng như tất cả các nhà cung cấp sản phẩm dịch vụ khác trên thị trường phải có sự phân đoạn thị trường một cách cẩn thận đồng thời phải nhận biết được một cách sâu sắc quá trình cũng như các yếu tố tác động đến – hành vi mua  sản phẩm của khách hàng.

    • Số lượng nhu cầu lớn nhưng quy mô nhu cầu nhỏ

    Do đối tượng khách hàng của dịch vụ ngân hàng bán lẻ là cá nhân, hộ gia đình, các các doanh nghiệp vừa và nhỏ nên số lượng khách hàng của loại hình dịch vụ này là rất lớn dẫn đến số lượng các giao dịch ngân hàng bán lẻ là rất nhiều và thường xuyên. Tuy vậy, giá trị của mỗi giao dịch thường nhỏ hơn giá trị các giao dịch ngân hàng bán buôn, chỉ tương ứng, phù hợp với nhu cầu của một cá nhân, một các doanh nghiệp vừa và nhỏ.

    Chính đặc điểm này mang lại lợi thế cho dịch vụ ngân hàng bán lẻ so với dịch vụ ngân hàng bán buôn. Sự thường xuyên và ổn định trong các giao dịch bán lẻ góp phần mang lại một nguồn thu nhập đáng kể và sự tăng trưởng bền vững của ngân hàng. Bên cạnh đó, chính vì giá trị các giao dịch bán lẻ không quá lớn nên rủi ro chứa đựng trong bản thân các giao dịch cũng không nhiều, góp phần đảm bảo an toàn cho hoạt động ngân hàng.  

    • Danh mục sản phẩm đa dạng

    Với đặc trưng về nhóm khách hàng của dịch vụ ngân hàng bán lẻ là nhu cầu đa dạng, không đồng nhất, phụ thuộc nhiều vào yếu tố giới tính, tuổi tác, văn hóa, địa điểm cư trú… nên một ngân hàng muốn phát triển được dịch vụ ngân hàng bán lẻ phải có một danh mục sản phẩm đa dạng và không ngừng phát triển cải tiến.

    Cùng là sản phẩm tín dụng nhưng phục vụ nhu cầu tiêu dùng của cá nhân, các hộ gia đình, ngân hàng đưa ra một danh sách các sản phẩm như: cho vay mua nhà, cho vay mua ô tô, cho vay mua sắm…Nhắm đến đối tượng học sinh sinh viên, ngân hàng đưa ra sản phẩm cho vay du học. Nhắm đến đối tượng các các doanh nghiệp vừa và nhỏ ngân hàng đưa ra sản phẩm cho vay phát triển kinh doanh.

    Cùng là sản phẩm huy động tiền gửi nhưng với những kỳ hạn khác nhau, điều kiện rút gốc và lãi khác nhau lại có những sản phẩm khác nhau. Ví dụ: sản phẩm tiền gửi không kỳ hạn, sản phầm tiền gửi có kỳ hạn 6 tháng rút lãi cuối kỳ, sản phẩm tiền gửi kỳ hạn một năm lãi suất đặc biệt. v.v.

    hinh-anh-dich-vu-ngan-hang-ban-le-3

    Hiện tại, Luận Văn 24 đang cung cấp dịch vụ viết thuê luận văn các chuyên ngành kinh tế, tài chính. Nếu bạn bận rộn không có thời gian để hoàn thành hay gặp bất cứ khó khăn nào trong việc hoàn thành bài luận, hãy để chúng tôi đồng hành cùng bạn giải quyết mọi vấn đề. Với kinh nghiệm và đội ngũ trình độ cao, chúng tôi cam kết sẽ mang đến cho bạn nhiều lợi ích nhất.
    • Mạng lưới chi nhánh, kênh phân phối rộng khắp

     Vì nhóm khách hàng của dịch vụ ngân hàng bán lẻ là các cá nhân, hộ gia đình, các các doanh nghiệp vừa và nhỏ phân bố rải rác trên một phạm vi rộng lớn (trên cả nước, hoặc ra phạm vi quốc tế) nên để có thể tiếp cận tới mọi đối tượng khách hàng các ngân hàng phải không ngừng mở rộng thêm mạng lưới các chi nhánh, các phòng, các điểm giao dịch, các trạm ATM.

    Ngân hàng nào có mạng lưới chi nhánh càng nhiều, phân bố càng rộng thì càng có điều kiện tiếp xúc nhiều với các đối tượng khách hàng, nâng cao năng lực cạnh tranh so với các ngân hàng khác.

    Không chỉ chú trọng phát triển các kênh giao dịch truyền thống, các kênh giao dịch mới sử dụng công nghệ hiện đại như kênh giao dịch ngân hàng trực tuyến, ngân hàng online… cũng không ngừng được mở rộng tăng thêm tính thuận tiện cho các khách hàng.

    Tại các khu vực không có các điểm giao dịch trực tiếp của ngân hàng thì khách hàng vẫn có thể tiến hành một số giao dịch bình thường thông qua các phương tiện như Internet, Mobile phone… Đây chính là một điểm đặc trưng của dịch vụ ngân hàng bán lẻ.

    • Hoạt động ngân hàng bán lẻ phát triển trên nền tảng công nghệ cao

    Một đặc điểm rất quan trọng quyết định sự mở rộng và phát triển dịch vụ ngân hàng bán lẻ đó là việc ứng dụng thành tựu khoa học kĩ thuật, công nghệ vào hoạt động ngân hàng.

    Chính nhờ sự phát triển của khoa học kĩ thuật, điện tử, viễn thông và Internet mà các dịch vụ ngân hàng bán lẻ mới có thể được cung cấp ngày càng nhiều tới mọi đối tượng khách hàng như ngày nay. Điển hình của việc ứng dụng công nghệ cao vào dịch vụ ngân hàng là dịch vụ rút tiền, nạp tiền tự động qua hệ thống máy và thẻ ATM.

    Dịch vụ thanh toán bằng các thẻ tín dụng hoặc thẻ ghi nợ nội địa và quốc tế. Dịch vụ ngân hàng trực tuyến Internetbanking, Home banking, Phone banking, các sản phẩm chuyển tiền tự động…Với sự trợ giúp của công nghệ giờ đây khách hàng có thể tiếp cận với các dịch vụ ngân hàng vào bất kỳ thời điểm nào trong ngày, ở bất cứ nơi đâu mà  không còn bị ngăn cách bởi khoảng cách địa lí, bởi biên giới hữu hình.

    • Công tác Marketing giữ vai trò ngày càng quan trọng trong việc phát triển dịch vụ ngân hàng bán lẻ

    Đối với hoạt động ngân hàng bán lẻ, Marketing càng ngày càng có ý nghĩa quan trọng vì những lí do sau:

    + Thị trường bán lẻ có quy mô rộng, bao gồm nhiều đối tượng khách hàng sống phân tán nên vai trò của thông tin rất quan trọng trong việc ra quyết định lựa chọn ngân hàng và sản phẩm dịch vụ. Hoạt động quảng bá thương hiệu, tiếp thị, xúc tiến thương mại trong Marketing sẽ giải quyết vấn đề về thông tin này.

    hinh-anh-dich-vu-ngan-hang-ban-le-4

    + Khách hàng cá nhân, hộ gia đình và các doanh nghiệp vừa và nhỏ thường có xu hướng chuyển đổi ngân hàng, mức độ trung thành của họ không cao, do đó marketing đóng vai trò quan trọng trong việc thắt chặt mối quan hệ giữa ngân hàng và khách hàng, duy trì và phát triển lòng trung thành của đối tượng khách hàng này.

    + Khách hàng trên thị trường bán lẻ có thể thoả mãn nhu cầu về sản phẩm tài chính của mình từ nhiều tổ chức khác ngoài ngân hàng như các công ty bảo hiểm, các doanh nghiệp sản xuất cung cấp dịch vụ bán hàng trả góp hay tín dụng thương mại cho khách hàng…Vì thế, Marketing đóng vai trò quan trọng trong việc lôi kéo, thuyết phục khách hàng sử dụng sản phẩm, dịch vụ ngân hàng bán lẻ.

    Trên đây là bài viết tham khảo cung cấp kiến thức đầy đủ để bạn hiểu được khái niệm và đặc điểm của dịch vụ ngân hàng bán lẻ. Trong quá trình tìm hiểu, nếu có bất kì ý kiến thắc mắc xin liên hệ qua hotline 0988 55 2424 của Luận Văn 24 để được đội ngũ chuyên gia tư vấn giúp đỡ.

    Nguồn: Luanvan24.com

  • Chuyển giá là gì? Hiện tượng chuyển giá hiện nay tại Việt Nam

    Chuyển giá là gì? Hiện tượng chuyển giá hiện nay tại Việt Nam

    Hiện tượng chuyển giá là gì? Các hình thức chuyển giá phổ biến của các công ty đa quốc gia hiện nay ra sao? Chuyển giá có tác động như thế nào đến nền kinh tế và thực trạng hiện nay ra sao. Tất cả những thắc mắc trên của bạn sẽ dược Luận Văn 24 trình bày một cách chi tiết nhất qua bài viết dưới đây.

    hinh-anh-chuyen-gia-la-gi-1

    Chuyển giá là gì?

    Chuyển giá là việc thực hiện chính sách giá đối với hàng hóa, dịch vụ và tài sản được chuyển dịch giữa các thành viên trong tập đoàn qua biên giới không theo giá thị trường nhằm tối thiểu hóa số thuế của các công ty đa quốc gia (Multi Nations Company) trên toàn cầu.

    Chuyển giá là một khái niệm kinh tế trong hoạt động sản xuất kinh doanh của các công ty đầu tư nước ngoài, công ty xuyên quốc gia (đa quốc gia).Từ khi có đầu tư nước ngoài tại VN, tình trạng chuyển giá thường xuyên xảy ra và ngày càng tinh vi, khởi đầu nó vượt ra khỏi tầm kiểm soát của các nhà quản lý ( Nhà nước và doanh nghiệp hợp tác, liên doanh), nhưng rồi ngày càng bế tắc và hiện nay cũng chưa có biện pháp nào sáng sủa để quản lý được việc chuyển giá.

    Khi nhận đầu tư trực tiếp nước ngoài chúng ta có hai vấn đề cần bàn tới đó là vốn FDI và mặt trái đó là sự thất thu thuế do hiện tượng chuyển giá gây ra. Trong  những năm đầu thời kỳ hội nhập nguồn vốn FDI đã cải thiện rất nhiều cho GDP quốc dân, khoa học kỹ thuật…

    Bên cạnh đó do các văn bản quy định về giá chuyển giao tại Việt Nam chưa hoàn thiện nên dẫn tới một số hình thức đẩy lỗ sang công ty con tại nước sở tại gây thất thoát nguồn thu thuế, về bản chất kinh tế thì chuyển giá gây thiệt hại cho nền kinh tế chúng ta, đó là một sự gian lận trong hoạt động sản xuất kinh doanh, không sòng phẳng, làm thất thoát thu nhập quốc dân và đương nhiên thất thoát tài sản doanh nghiệp trong nước, tài chính quốc gia.

    Tuy nhiên, đánh giá trên phương diện khách quan thì nguồn vốn FDI mang lại nhiều lợi ích hơn nhưng không phải thế mà việc đặt ra các quy định mới về chuyển giá bị xem nhẹ. Việc làm này một phần làm nâng cao công tác quản lý thuế của quốc gia và chấn chỉnh hoạt động tài chính của các tập đoàn kinh tế.

    Hiểu theo nghĩa cụ thể thì chuyển giá là một hành vi do các chủ thể kinh doanh thực hiện nhằm thay đổi giá trị thực của hàng hóa khi trao đổi, dịch vụ trong quan hệ với các bên liên kết. Hành vi ấy có đối tượng tác động chính là giá cả.

    hinh-anh-chuyen-gia-la-gi-5

    Nguyên nhân dẫn đến hiện tượng chuyển giá

    • Xuất phát từ quyền tự do định đoạt trong kinh doanh, các chủ thể hoàn toàn có quyền quyết định giá cả của một giao dịch. Do đó họ hoàn toàn có quyền mua hay bán hàng hóa, dịch vụ với giá họ mong muốn.
    • Các mối quan hệ gắn bó chung về lợi ích giữa nhóm liên kết nên sự khác biệt về giá giao dịch được thực hiện giữa các chủ thể kinh doanh có cùng lợi ích không làm thay đổi lợi ích toàn cục.
    • Việc quyết định chính sách giá giao dịch giữa các thành viên trong nhóm liên kết không thay đổi tổng lợi ích chung nhưng có thể làm thay đổi tổng nghĩa vụ thuế của họ. Thông qua việc định giá, nghĩa vụ thuế được chuyển từ nơi bị điều tiết cao sang nơi bị điều tiết thấp hơn và ngược lại.

    Tồn tại sự khác nhau về chính sách thuế của các quốc gia là điều không tránh khỏi do chính sách kinh tế – xã hội của họ không thể đồng nhất, cũng như sự hiện hữu của các quy định ưu đãi thuế là điều tất yếu. Chênh lệch mức độ điều tiết thuế vì thế hoàn toàn có thể xảy ra.

    Hiện tại, Luận Văn 24 đang cung cấp dịch vụ viết tiểu luận thuê, viết thuê luận văn ngành tài chính. Nếu bạn bận rộn không có thời gian để hoàn thành hay gặp bất cứ khó khăn nào trong việc hoàn thành bài luận, hãy để chúng tôi đồng hành cùng bạn giải quyết mọi vấn đề. Với kinh nghiệm và đội ngũ trình độ cao, chúng tôi cam kết sẽ mang đến cho bạn nhiều lợi ích nhất.

    Các hình thức chuyển giá phổ biến của các công ty đa quốc gia

    • Chuyển giá thông qua việc mua bán nguyên vật liệu sản xuất, bán thành phẩm hay thành phẩm

    Các thành viên của công ty đa quốc gia có trụ sở tại các quốc gia có thuế suất thuế thu nhập doanh nghiệp cao sẽ mua vào các nguyên vật liệu, bán thành phẩm hay thành phẩm với giá cao và bán ra cho các công ty thành viên với giá thấp nhằm tối thiểu hóa thuế thu nhập doanh nghiệp.

    Giá mua vào và giá bán ra cho các thành viên trong công ty đa quốc gia bị áp đặt nhằm tối thiểu hóa thu nhập phải nộp thuế.Ngoài ra, thông qua việc xuất khẩu và nhập khẩu hàng hóa các công ty đa quốc gia cũng thu lợi từ các biểu thuế xuất khẩu hay nhập khẩu nhằm tối đa hóa lợi nhuận sau thuế của công ty đa quốc gia.

    • Chuyển giá thông qua các tài sản cố định hữu hình như định giá thật cao các tài sản cố định chuyển giao cho các công ty thành viên tại các quốc gia có thuế suất cao.

    Giá chuyển giao được xác định cao hơn nhiều lần so với giá trị thật của tài sản đó. Thông qua hoạt động chuyển giao tài sản này thì các công ty đa quốc gia đã chuyển một phần thu nhập ra nước ngoài. Vì vậy mà thu nhập chịu thuế sẽ bị giảm.

    Khi thực hiện hành động này thì các công ty đa quốc gia một mặt tiết kiệm được chi phí thanh lý các tài sản cố định lỗi thời, một mặt lại chuyển được thu nhập về quốc gia có thuế suất thấp từ đó có thể tối đa hóa lợi nhuận của công ty đa quốc gia.

    hinh-anh-chuyen-gia-la-gi-3

    • Chuyển giá thông qua việc mua các tài sản cố định vô hình với giá thật cao hay chi trả các chi phí bản quyền, các chi phí để xây dựng thương hiệu sản phẩm, các chi phí nghiên cứu và phát triển sản phẩm.

    Các công ty đa quốc gia sẽ xây dựng các phòng nghiên cứu và phát triển sản phẩm tại các quốc gia có thuế suất thuế thu nhập doanh nghiệp cao, tất cả các chi phí nghiên cứu phát triển sản phẩm sẽ do thành viên công ty đa quốc gia tại quốc gia có thuế suất cao này gánh chịu. Nhưng kết quả của việc nghiên cứu và phát triển sản phẩm thì các thành viên khác vẫn được áp dụng như nhau.

    Hoặc một chương trình quảng cáo nhằm xây dựng thương hiệu cho sản phẩm trên phạm vi khu vực, nhưng chi phí lại được phân bổ hết về cho thành viên có trụ sở tại quốc gia có thuế suất cao. Các hoạt động trên đều nhằm tối thiểu hóa số thuế phải nộp và việc phân bổ chi phí trên hoàn toàn là hành động chủ quan của các nhà quản lý của công ty đa quốc gia vì vậy đây cũng là hình thức chuyển giá.

    Các thành viên trong công ty đa quốc gia có sự cung ứng các dịch vụ tài chính, tư vấn pháp lý với giá cả cao hơn nhiều lần so với giá cả thị trường. Cung cấp các khoản tín dụng ngắn hạn, trung hạn và dài hạn với lãi suất cao hơn mức thị trường.

    Có sự tài trợ liên quan đến các nguồn lực cơ bản như nhân sự, vật chất. Các chi phí cho các chuyên gia tham gia tư vấn như các chi phí về tiền lương, chi phí nhà ở, đi lại, các chi phí khác phục vụ cho các chuyên gia yên tâm làm việc.

    Thực trạng chuyển giá ở Việt Nam hiện nay

    Tại Việt Nam, chuyển giá là một vấn đề không còn mới mặc dù vậy chuyển giá vẫn luôn là vấn đề nan giải đặt ra cho các đơn vị quản lý tài chính Nhà nước. Hiện nay, chuyển giá tại các doanh nghiệp nước ngoài có phần tinh vi, phức tạp và biến đổi biến thể dựa theo các căn cứ quy định chuyển giá.

    Hoạt động thanh tra và kiểm toán đối với việc tính giá chuyển giao để tìm ra dấu hiệu vi phạm của DN FDI cũng được thực hiện ngày càng nhiều hơn trong thời gian gần đây. Số lượng các cuộc thanh tra và phát hiện vi phạm qua thanh tra cũng tăng thêm. Tuy nhiên, việc này mới chỉ dừng lại ở một số tỉnh, thành phố lớn có vốn FDI nhiều như TP.HCM, Đồng Nai, Lâm Đồng… chưa thực hiện ở các địa phương khác.

    Các hình thức chuyển giá ở Việt Nam hiện nay:

    • Tăng chi phí quảng cáo và marketing
    • Giá bán thấp hơn so với chi phí
    • Khai úa giá trị đầu tư

    hinh-anh-chuyen-gia-la-gi-4

    Tác động của chuyển giá đến nền kinh tế

    Khi xảy ra hành vi chuyển giá mà không có quy định pháp luật để xử lý hoặc không được xử lý theo quy định của pháp luật thì sẽ có hai tác động cơ bản sau:

    Thứ nhất, làm thất thu ngân sách nhà nước. Đây có thể coi là tác động hiển nhiên đầu tiên vì với việc doanh nghiệp được lợi về thuế thì phần thuế lẽ ra có thể thu được theo Luật đã không được nộp vào ngân sách nhà nước, và thực tế ở Việt Nam thì số thất thu này không nhỏ.

    Thứ hai, tạo ra môi trường cạnh tranh không lành mạnh giữa các chủ thể kinh tế. Mặc nhiên, khi một doanh nghiệp được hưởng lợi về nghĩa vụ thuế thông qua hành vi chuyển giá, doanh nghiệp này sẽ thu lợi cao hơn những doanh nghiệp khác có cùng điều kiện nhưng không thực hiện hành vi chuyển giá.

    Một môi trường cạnh tranh lành mạnh phải tạo ra khả năng hưởng lợi chính đáng từ hoạt động kinh doanh chính đáng. Ngoài ra, với việc được lợi nhờ chuyển giá, các doanh nghiệp này có thể mua nguyên liệu đầu vào với giá cao làm cho các doanh nghiệp khác không thể mua được nguyên liệu phục vụ sản xuất, kinh doanh, đẩy các doanh nghiệp khác vào tình trạng phá sản.

    Trên đây là bài viết tham khảo cung cấp kiến thức đầy đủ để bạn hiểu được chuyển giá là gì và tình trạng chuyển giá ở Việt Nam. Trong quá trình tìm hiểu, nếu có bất kì ý kiến thắc mắc xin liên hệ qua hotline 0988 55 2424 của Luận Văn 24 để được đội ngũ chuyên gia tư vấn giúp đỡ.

    Nguồn: Luanvan24.com

  • Tỷ suất lợi nhuận là gì? Ý nghĩa, vai trò tỷ suất lợi nhuận

    Tỷ suất lợi nhuận là gì? Ý nghĩa, vai trò tỷ suất lợi nhuận

    Trong kinh doanh, tỷ suất lợi nhuận giúp thể hiện mức độ hoạt động hiệu quả của một doanh nghiệp. Do đó bất kỳ doanh nghiệp nào cũng quan tâm tới tỷ suất lợi nhuận. Vậy tỷ suất lợi nhuận là gì? Để có câu trả lời hãy cùng Luận Văn 24 theo dõi bài viết sau đây.

    hinh-anh-ty-suat-loi-nhuan-la-gi-1
    Tỷ suất lợi nhuận là gì?

    Tỷ suất lợi nhuận là gì?

    Tỷ suất lợi nhuận hay còn được viết tắt là ROS là tỷ số giữa mức lợi nhuận thu về so với tổng số vốn cố định và số vốn lưu động đã được sử dụng trong một thời hạn nhất định.

    Tỷ suất lợi nhuận được biểu thị dưới dạng phần trăm. Khi tỷ số này càng cao thì đồng nghĩa với việc kinh doanh càng có lãi.

    Trường hợp tỷ số lợi nhuận là một giá trị dương chứng tỏ dự án đầu tư hoặc doanh nghiệp đó đang hoạt động có lãi. Ngược lại nếu là một giá trị âm thì doanh nghiệp hoạt động thua lỗ. Khi đó doanh nghiệp phải có kế hoạch điều chỉnh lại chiến lược kinh doanh nhằm khắc phục được tình trạng thua lỗ trên.

    Ý nghĩa của tỷ suất lợi nhuận

    Xác định tỷ suất lợi nhuận là một việc làm vô cùng cần thiết và quan trọng. Bởi nó sẽ giúp cho nhà lãnh đạo và các nhà đầu tư thấy được lợi nhuận của các hoạt động kinh doanh mà không cần tính tới các chi phí gián tiếp. 

    Theo một cách hiểu đơn giản, tỷ suất lợi nhuận sẽ giúp cho công ty thấy được việc sản xuất và bán sản phẩm của mình đang đạt hiệu quả như thế nào. Từ đó cung cấp cho nhà đầu tư cái nhìn sâu sắc nhất về các khía cạnh khác nhau của hiệu suất tài chính trong doanh nghiệp. Chẳng hạn như:

    • Lợi nhuận và tính ổn định trong doanh nghiệp.
    • Nắm được khả năng quản lý chi phí.
    • Xây dựng các chiến lược định giá.
    • Nắm được tiềm năng đầu tư.

    Khi dựa vào tỷ suất lợi nhuận, các chủ đầu tư, nhà lãnh đạo của doanh nghiệp có thể xác định được hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp mình đang có lời hay lỗ. Để từ đó đưa ra các chiến lược giá cho sản phẩm hoặc dịch vụ.

    Ngoài ra, tỷ suất lợi nhuận còn là một yếu tố khẳng định vị thế của doanh nghiệp trong ngành và giúp hấp dẫn vốn đầu tư. Khi tỷ suất lợi nhuận càng cao đồng nghĩa với vị thế của doanh nghiệp trong ngành cũng càng lớn, thị phần chiếm được cũng cao.

    Vai trò của tỷ suất lợi nhuận

    Với nội dung trên chắc hẳn phần nào cũng giúp bạn đọc giải đáp được thắc mắc tỷ suất lợi nhuận là gì? Vậy tỷ suất lợi luận có vai trò như thế nào đối với sự tồn tại và phát triển của tổ chức.

    hinh-anh-ty-suat-loi-nhuan-la-gi-2
    Vai trò của tỷ suất lợi nhuận
    • Tỷ suất lợi nhuận vừa là mục tiêu, động lực và vừa là điều kiện ảnh hưởng tới sự tồn tại cũng như phát triển của công ty.
    • Đây là một chỉ tiêu kinh tế cơ bản giúp đánh giá những hiệu quả trong quá trình sản xuất của doanh nghiệp. Tùy thuộc vào giá trị tỷ suất lợi nhuận là âm hay dương thì doanh nghiệp sẽ tìm cách điều chỉnh các chiến lược sao cho phù hợp nhất.
    • Tỷ suất lợi nhuận giúp doanh nghiệp hoạch định chiến lược: Các chiến lược được đưa ra bởi nhà quản trị sẽ phụ thuộc nhiều vào tỷ số này. Nó giúp cho nhà quản trị theo dõi phương án mình đưa ra xem có mang tới lợi nhuận hay lỗ vốn dựa theo công thức đã tính để từ đó có thể điều chỉnh chiến lược một cách hợp lý nhất.

    Cách tính tỷ suất lợi nhuận

    Đối với tỷ suất lợi nhuận có 4 loại phổ biến. Đó là tỷ suất lợi nhuận trên doanh thu, tỷ suất lợi nhuận trên vốn, tỷ suất lợi nhuận trên chi phí và tỷ suất lợi nhuận trên tổng tài sản. Hãy cùng tìm hiểu kĩ hơn về từng loại này nhé.

    Tỷ suất lợi nhuận trên doanh thu (ROS)

    Khái niệm

    Tỷ suất lợi nhuận trên doanh thu ký hiệu là ROS. Đây là tỉ số thu được giữa lợi nhuận và tổng doanh thu tại một thời hạn nhất định.

    Cách tính tỷ suất lợi nhuận trên doanh thu

    Để tính tỷ suất lợi nhuận trên doanh thu chúng ta có thể áp dụng công thức sau:

    ROS = (Lợi nhuận sau thuế/ doanh thu) x 100.

    Nhờ vào tỷ suất này sẽ giúp các nhà đầu tư nắm bắt được một cách chính xác về hoạt động phát triển trong doanh nghiệp. Từ đó xác định được mức lợi nhuận thu về và số tiền vốn đã bỏ ra.

    Tỷ suất lợi nhuận trên vốn (ROE)

    Khái niệm

    Tỷ suất lợi nhuận trên vốn là tỷ số giữa tổng lợi nhuận thu về và tổng số vốn đầu tư tại một thời hạn nhất định.

    Cách tính tỷ suất lợi nhuận trên vốn

    Công thức tính tỷ suất lợi nhuận trên vốn được xác định như sau:

    ROE = (Lợi nhuận sau thuế/ vốn sở hữu) x 100.

    ROE này sẽ giúp cho chủ doanh nghiệp xác định mức lợi nhuận thu về được bao nhiêu khi đầu tư vốn cho hoạt động kinh doanh.

    Tỷ suất lợi nhuận trên tổng tài sản (ROA)

    hinh-anh-ty-suat-loi-nhuan-la-gi-3
    Tỷ suất lợi nhuận trên tổng tài sản (ROA)

    Khái niệm

    Tỷ suất lợi nhuận trên tổng tài sản được viết tắt là ROA. Đây là tỷ số giữa tổng lợi nhuận thu được so với tổng tài sản của doanh nghiệp.

    Cách tính tỷ suất lợi nhuận trên tổng tài sản

    Công thức tính: 

    ROA = (Lợi nhuận sau thuế/ Tổng tài sản) x 100

    Thông qua tỷ số ROA có thể xác định được tính hiệu quả trong quá trình quản lý và tổ chức về hoạt động kinh doanh, sản xuất của một doanh nghiệp. Đồng thời nó còn phản ánh về khả năng sinh lời của tổng tài sản trong doanh nghiệp đó.

    Tỷ suất lợi nhuận trên chi phí 

    Khái niệm

    Tỷ suất lợi nhuận trên chi phí ký hiệu là tỉ số giữa tổng lợi nhuận thu được so với chi phí phát sinh trong kỳ hạn nhất định.

    Các tính tỷ suất lợi nhuận trên chi phí

    Tỷ suất lợi nhuận trên chi phí = (Tổng lợi nhuận trong kỳ / Tổng chi phí phát sinh trong kỳ) x 100.

    Với tỷ số này có ý nghĩa là cứ một đồng khoản chi bỏ ra sẽ mang tới lợi nhuận tương ứng là bao nhiêu. Khi tỷ suất lợi nhuận trên chi phí càng lớn đồng nghĩa với khoản chi càng thấp và lợi nhuận của doanh nghiệp càng cao.

    Bài viết trên đây là một số thông tin mà Luận Văn 24 muốn chia sẻ đến với bạn đọc nhằm giải đáp thắc mắc tỷ suất lợi nhuận là gì? Chắc hẳn qua đây đã giúp cho bạn đọc có cái nhìn sâu rộng hơn về tỷ suất lợi nhuận, từ đó có thể tính toán tỷ suất lợi nhuận trong công ty của mình một cách chính xác và hiệu quả nhất. Cảm ơn bạn đã theo dõi bài viết này.

    Nguồn: Luanvan24.com

  • Chỉ số ROA là gì? Mối quan hệ giữa chỉ số ROA và ROE

    Chỉ số ROA là gì? Mối quan hệ giữa chỉ số ROA và ROE

    Đối với các doanh nghiệp, chỉ số ROA đóng một vai trò tương đối quan trọng và đáng được chú ý. Nó mang tới nhiều ý nghĩa sâu sắc trong việc phân tích và đánh giá tình hình của một doanh nghiệp. Vậy chỉ số ROA là gì? Các tính và ý nghĩa của ROA ra sao? Để có câu trả lời hãy cùng Luận Văn 24 theo dõi bài viết sau.

     hinh-anh-chi-so-roa-la-gi-1

    Chỉ số ROA là gì?

    ROA là viết tắt của cụm từ Return On Asset, ROA là chỉ số về lợi nhuận trên tài sản.

    Chỉ số ROA được sử dụng để biểu thị về mối tương quan của mức sinh lợi nhuận của doanh nghiệp so với số tài sản mà doanh nghiệp hiện đã có và đầu tư. Thông qua chỉ số ROA, doanh nghiệp sẽ đánh giá được hiệu quả của việc đầu tư vào những tài sản và việc thu lợi nhuận từ tài sản đó như thế nào.

    ROA được thể hiện dưới dạng tỷ lệ phần trăm. Nếu như con số này càng cao thì nhà quản trị và lãnh đạo của công ty càng phải quản lý bảng cân đối kế toán để có thể tạo ra lợi nhuận hiệu quả nhất.

    Công thức tính chỉ số ROA

    Sau khi nắm được chỉ số ROA là gì mọi người thường quan tâm tới công thức tính ROA. Để tính chỉ số ROA các bạn có thể áp dụng công thức sau:

    ROA = Lợi nhuận ròng/ tổng tài sản trung bình

    Khi tính ROA ta nên sử dụng tổng tài sản trung bình thay vì sử dụng tổng tài sản. Bởi lợi nhuận ròng là đại diện cho hoạt động của doanh nghiệp tại một khoảng thời gian. Còn tổng tài sản được đo lường trong một thời điểm nhất định. Vì thế nên sử dụng tổng tài sản trung bình để tính trong khoảng thời gian và khớp với lợi nhuận ròng.

    Ý nghĩa của chỉ số ROA

    ROA là một chỉ số mang tới nhiều ý nghĩa quan trọng cho doanh nghiệp. Cụ thể như:

    • Dựa vào chỉ số ROA, bạn sẽ nhận thấy được mức thu nhập được tạo ra từ vốn đầu tư hay còn được gọi là tài sản là bao nhiêu. Khi đó sẽ biết được doanh nghiệp đã kiếm được bao nhiêu lợi nhuận và được hưởng lãi bao nhiêu trên 1 đồng vốn tài sản. ROA của những công ty có quy mô lớn có thể thay đổi đáng kể và phụ thuộc vào nhiều ngành. Do đó ROA được xem như một thước đo so sánh công ty này với công ty tương tự.
    • Chỉ số ROA còn cung cấp cho các nhà đầu tư một số ý tưởng về mức độ hiệu quả của công ty trong việc chuyển đổi về số tiền đầu tư thành thu nhập ròng. Nếu như ROA càng cao thì càng tốt bởi công ty đang kiếm được nhiều tiền hơn và đầu tư sẽ ít hơn.
    • Các nhà đầu tư cũng có thể dựa vào chỉ số ROA để đánh giá thực lực và khả năng thành công của công ty đó. Khi chỉ số ROA càng cao thì khả năng và thực lực của công ty càng tốt đẹp và gây được ấn tượng tốt hơn.
    • Đối với sàn chứng khoán, ROA càng lớn sẽ khiến cho cổ phiếu của công ty càng có giá và bán được nhiều, giúp mang về số tiền đầu tư càng lớn.
    hinh-anh-chi-so-roa-la-gi-2
    Ý nghĩa của chỉ số ROA

    Chỉ số ROA bao nhiêu là tốt?

    Khi đã nắm được ý nghĩa của chỉ số ROA thì bạn cần phải biết chỉ số này ở mức bao nhiêu là tốt đối với doanh nghiệp.

    Dựa vào tiêu chuẩn quốc tế đánh giá, khi chỉ số ROA lớn hơn 7,5% chứng tỏ doanh nghiệp đủ năng lực tài chính. Tuy nhiên nếu chỉ số ROA chỉ được thống kê trong vòng 1 năm thì con số 7,5 chưa nói lên được điều gì về doanh nghiệp đó. Các nhà đầu tư phần lớn sẽ theo dõi chỉ số trong khoảng thời gian ít nhất 3 năm liền kề nhau.

    Các chuyên gia cũng đã đưa ra nhận xét và đánh giá rằng nếu như doanh nghiệp nào có thể duy trì về chỉ số ROA ở mức lớn hơn hoặc bằng 10% trong khoảng thời gian 3 năm liên tục thì mới được xem là một doanh nghiệp có sự ổn định, thực lực và có năng lực kinh doanh. Khi đó doanh nghiệp sẽ được giới chuyên môn đánh giá cao hơn và họ sẽ xem xét về việc đầu tư.

    Mối quan hệ giữa chỉ số ROA và ROE

    Giữa hai chỉ số ROA và ROE thì ROE giữ vai trò quan trọng hơn trong một doanh nghiệp. Tuy nhiên đây là hai chỉ số bổ sung cho nhau và các nhà đầu tư cần phải có sự nhìn nhận và đánh giá chúng cùng một lúc.

    Chỉ số ROE là tỷ suất lợi nhuận trên vốn chủ sở hữu, phản ánh năng lực sử dụng đồng vốn để sinh lời trong doanh nghiệp như thế nào. Công thức tính chỉ số ROE:

    ROE = ( Lợi nhuận sau thuế / vốn chủ sở hữu ) x 100%.

    Để tìm hiểu rõ hơn về mối quan hệ giữa chỉ số ROA và ROE chúng ta cùng phân tích trong một ví dụ cụ thể như sau:

    Chẳng hạn có công ty A và công ty B.  Trong đó vốn chủ sở hữu của công ty A là 200 tỷ, công ty B là 100 tỷ. Lợi nhuận sau thuế công ty A là 40 tỷ và công ty B là 20 tỷ. Công ty A nợ 80 tỷ và công ty B không nợ.

    • Qua ví dụ này có thể thấy rằng chỉ số ROE của cả công ty A và B đều bằng 20%. Điều này có nghĩa là tỷ suất lợi nhuận sau thuế/ vốn chủ sở hữu là bằng nhau và cả hai đang có hiệu quả sử dụng vốn giống như nhau.
    • Thế như công ty B không vay nợ còn công ty A đang vay nợ 80 tỷ đồng. Vì vậy tỷ lệ nợ/ vốn chủ sở hữu của công ty A là 40%.
    • Khi đó công ty B sử dụng vốn tốt hơn so với công ty A bởi công ty A mang nợ và bất kể khi nào đó công ty A sẽ phải lấy lợi nhuận để trả nợ.

    Mặt khác ta có: Tài sản = Vốn chủ sở hữu + Nợ.

    Nên:

    ROA ( A ) = 40/ ( 200+ 800) = 14,3%.

    ROA ( B ) = 20/100 = 20%.

    Vì thế công ty B sử dụng vốn đạt hiệu quả hơn so với công ty A. Tại các điều  kiện tài chính và kinh doanh như nhau thì công ty B sẽ được đánh giá cao hơn so với công ty A.

    Thông qua ví dụ này có thể rút ra nhận xét rằng chỉ số ROA và ROE có mối quan hệ bổ trợ cho nhau. Nếu như khi đánh giá cần phải xem xét kỹ tới 2 chỉ số này và tránh việc đánh giá chủ quan khi chỉ dựa vào 1 trong 2 chỉ số. Bởi nó có thể sẽ dẫn tới việc bạn đưa ra những quyết định đầu tư không được đúng đắn.

    hinh-anh-chi-so-roa-la-gi-3
    Mối quan hệ giữa chỉ số ROA và ROE

    Hạn chế của chỉ số ROA

    Chỉ số ROA là thước đo về cách một công ty sử dụng nguồn lực của mình hiệu quả ra sao. Tuy nhiên nó cũng có một số hạn chế sau.

    • ROA không được sử dụng và ứng dụng cho tất cả các doanh nghiệp thuộc vào nhiều ngành công nghiệp khác nhau.
    • Công thức về chỉ số ROA cơ bản bị hạn chế trong việc ứng dụng của nó và thích hợp nhất đối với những ngân hàng. Bởi bảng cân đối kế toán trong ngân hàng sẽ biểu hiện được tốt hơn về giá trị thực của tài sản cũng như các khoản vay nợ.
    • Chỉ số ROA thường làm xáo trộn mọi thứ của công ty phi tài chính. Bởi ROA sẽ so sánh lợi nhuận của các nhà đầu tư vốn cổ phần với tài sản được tài trợ nhờ vào các nhà đầu tư nợ và vốn cổ phần. Mặt khác trong công ty phi tài chính, nợ và vốn chủ sở hữu sẽ có sự phân chia chặt chẽ. Chi phí của lãi vay sẽ là tiền lãi sử dụng cho các nhà cung cấp nợ và thu nhập ròng lại là lợi nhuận cho các nhà đầu tư vốn cổ phần.

    Như vậy, qua những thông tin trên chắc hẳn bạn đã có cái nhìn tổng quát nhất về chỉ số ROA là gì, ý nghĩa của ROA và có thể áp dụng cách tính ROA cho doanh nghiệp của mình. Hãy truy cập vào trang web của Luận Văn 24 để tìm hiểu nhiều kiến thức hữu ích hơn nữa nhé. Chúc các bạn thành công!

    Nguồn: Luanvan24.com

  • Các chủ thể tham gia thị trường chứng khoán Việt Nam

    Các chủ thể tham gia thị trường chứng khoán Việt Nam

    Các chủ thể tham gia thị trường chứng khoán Việt Nam là những ai? Tham gia thị trường chứng khoán Việt Nam bao gồm những tổ chức nào? Cùng Luận Văn 24 tham khảo ngay bài viết dưới đây để tìm câu trả lời cho những câu hỏi này một cách cụ thể và chính xác nhất.

    hinh-anh-cac-chu-the-tham-gia-thi-truong-chung-khoan-1

    1. Uỷ ban chứng khoán Nhà nước

    Uỷ ban chứng khoán Nhà nước được thành lập theo Nghị định số 75/CP ngày 28/1/1996 của Chính phủ. Đây là cơ quan trực thuộc Chính phủ, thực hiện chức năng tổ chức và quản lý Nhà nước về chứng khoán và thị trường chứng khoán quản lý việc cấp phép, đăng ký phát hành và kinh doanh chứng khoán, tổ chức công tác thanh tra, giám sát các hoạt động giao dịch, mua bán chứng khoán,… để đảm bảo thị trường hoạt động ổn định, công bằng và minh bạch.

    Bộ máy làm việc của Uỷ ban chứng khoán Nhà nước gồm có:

    • Vụ phát triển thị trường
    • Vụ quản lý phát hành chứng khoán
    • Vụ quản lý kinh doanh chứng khoán
    • Vụ quan hệ quốc tế
    • Vụ tổ chức cán bộ và đào tạo
    • Thanh tra
    • Văn phòng

    2. Trung tâm giao dịch chứng khoán TP.HCM 

    Theo Nghị định 48/1998/NĐ-CP ngày 11/7/1998 của Thủ tướng Chính phủ về việc thành lập Trung tâm giao dịch chứng khoán. Quyết định 128/1988/QĐ-UBCK5 ngày 1/8/1998 của Chủ tịch Uỷ ban chứng khoán Nhà nước thì Trung tâm giao dịch chứng khoán là đơn vị sự nghiệp có thu trực thuộc Uỷ ban chứng khoán Nhà nước có tư cách pháp nhân, có trụ sở, con dấu và tài khoản riêng.

    Trung tâm giao dịch chứng khoán TP.HCM thực hiện các chức năng: tổ chức, quản lý điều hành việc mua bán chứng khoán; quản lý điều hành hệ thống giao dịch chứng khoán và cung cấp các dịch vụ hỗ trợ việc mua bán chứng khoán, dịch vụ lưu ký chứng khoán; đăng ký chứng khoán, thanh toán bù trừ đối với các giao dịch chứng khoán; công bố thông tin về hoạt động giao dịch chứng khoán; kiểm tra giám sát các hoạt động giao dịch chứng khoán và một số nhiệm vụ khác.

    hinh-anh-cac-chu-the-tham-gia-thi-truong-chung-khoan-2

    Tổ chức của Trung tâm giao dịch chứng khoán gồm có Ban giám đốc điều hành và 8 phòng chức năng:

    • Phòng Quản lý giao dịch
    • Phòng Đăng ký – Lưu ký – Thanh toán bù trừ
    • phòng Quản lý Niêm yết
    • Phòng Giám sát thị trường
    • Phòng Công bố thông tin
    • Phòng Công nghệ tin học
    • Phòng Quản lý thành viên
    • Phòng Hành chính – Nhân sự

    3.  Các công ty chứng khoán 

    Theo Quyết định số 04/1998/QĐ-UBCK3 ngày 13/10/1998 của Uỷ ban chứng khoán Nhà nước, các công ty chứng khoán được thành lập dưới hình thức pháp lý là công ty cổ phần hoặc công ty trách nhiệm nhiệm hữu hạn. Đó là những tổ chức kinh tế có tư cách pháp nhân, có vốn riêng và hạch toán kinh tế độc lập.

    Tuỳ theo vốn điều lệ và đăng ký kinh doanh mà một công ty có thể thực hiện một hoặc một số nghiệp vụ kinh doanh chứng khoán: môi giới chứng khoán, tự doanh, quản lý danh mục đầu tư, bảo lãnh phát hành, tư vấn đầu tư và lưu ký chứng khoán.

    Hiện tại, Luận Văn 24 đang cung cấp dịch vụ hỗ trợ viết tiểu luận thuê các chuyên kinh tế, tài chính. Nếu bạn bận rộn không có thời gian để hoàn thành hay gặp bất cứ khó khăn nào trong việc hoàn thành bài luận, hãy để chúng tôi đồng hành cùng bạn giải quyết mọi vấn đề. Với kinh nghiệm và đội ngũ trình độ cao, chúng tôi cam kết sẽ mang đến cho bạn nhiều lợi ích nhất.

     

    hinh-anh-cac-chu-the-tham-gia-thi-truong-chung-khoan-3

    4. Các tổ chức phát hành chứng khoán

    Theo các văn bản pháp lý hiện hành, các tổ chức được phép phát hành chứng khoán ở Việt Nam bao gồm:

    • Chính phủ: phát hành tín phiếu kho bạc, trái phiếu kho bạc và trái phiếu đầu tư.
    • Chính quyền địa phương: phát hành trái phiếu để tài trợ cho các dự án và các nhu cầu chi tiêu của chính quyền địa phương.
    • Các công ty cổ phần (bao gồm cả doanh nghiệp cổ phần hóa và công ty cổ phần mới thành lập): phát hành cổ phiếu (cổ phiếu phổ thông, cổ phiếu ưu đãi biểu quyết, cổ phiếu ưu đãi cổ tức và cổ phiếu ưu đãi hoàn lại) và trái phiếu doanh nghiệp.
    • Các doanh nghiệp nhà nước và công ty trách nhiệm hữu hạn: phát hành trái phiếu doanh nghiệp.
    • Các quỹ đầu tư chứng khoán và công ty quản lý quỹ: phát hành chứng chỉ quỹ đầu tư.

    Tuy nhiên, trên thực tế tham gia phát hành chứng khoán trong thời gian qua chủ yếu là Chính phủ, các Ngân hàng thương mại quốc doanh, một số doanh nghiệp nhà nước và các doanh nghiệp nhà nước khi tiến hành cổ phần hóa. Các chủ thể còn lại (ngoài chứng khoán phát hành lần đầu khi thành lập công ty, nếu có), hầu như chưa triển khai phát hành chứng khoán.

    5. Các nhà đầu tư chứng khoán

    Theo các văn bản pháp luật hiện hành, các nhà đầu tư trên thị trường chứng khoán Việt Nam bao gồm: cá nhân, hộ gia đình, các tổ chức, các quỹ đầu tư, các doanh nghiệp, các công ty bảo hiểm… Tuy nhiên, tuỳ theo đặc điểm của mỗi loại thị trường mà mức độ tham gia của các nhà đầu tư có khác nhau.

    Trên thị trường đấu thầu tín phiếu và trái phiếu kho bạc, các nhà đầu tư chủ yếu là các ngân hàng thương mại quốc doanh và một số tổ chức Bảo hiểm quen thuộc. Các thành viên khác như ngân hàng thương mại cổ phần, ngân hàng liên doanh, chi nhánh ngân hàng nước ngoài tại Việt Nam… hầu như không tham gia, hoặc tham gia đặt thầu với lãi suất cao nên rất ít khi trúng thầu.

    Trên thị trường bán lẻ trái phiếu qua hệ thống kho bạc nhà nước, hệ thống ngân hàng thương mại, Trung tâm giao dịch chứng khoán. Các nhà đầu tư tham gia thị trường thường là nhà đầu tư cá thể và chủ yếu là nhà đầu tư trong nước.

    Thời gian gần đây đã bắt đầu xuất hiện một số nhà đầu tư nước ngoài (Anh, Trung Quốc, Công ty Bảo hiểm Prudential). Trên thị trường tự do, ngoài các nhà đầu tư cá nhân trong nước cũng đã xuất hiện những nhà đầu tư cá nhân nước ngoài.

    hinh-anh-cac-chu-the-tham-gia-thi-truong-chung-khoan-4

    6. Các tổ chức phụ trợ khác

    Ngoài các thành viên nêu trên, tham gia thị trường chứng khoán Việt Nam còn có các tổ chức phụ trợ khác như: các tổ chức lưu ký, thanh toán bù trừ, các tổ chức kiểm toán…

    Thành viên lưu ký của Trung tâm giao dịch chứng khoán bao gồm các công ty chứng khoán, ngân hàng thương mại đủ điều kiện được Uỷ ban chứng khoán Nhà nước cấp giấy phép hoạt động lưu ký chứng khoán. Hiện nay, Ngân hàng đầu tư và phát triển Việt Nam được chọn là ngân hàng chỉ định thanh toán.

    Trên đây là bài viết tham khảo cung cấp cho bạn đầy đủ thông tin về các chủ thể tham gia thị trường chứng khoán Việt Nam. Trong quá trình tìm hiểu, nếu có bất kì ý kiến thắc mắc xin liên hệ qua hotline 0988 55 2424 của Luận Văn 24 để được đội ngũ chuyên gia tư vấn giúp đỡ.

    Nguồn: Luanvan24.com

  • Ngân sách nhà nước là gì? Quản lý chi ngân sách nhà nước

    Ngân sách nhà nước là gì? Quản lý chi ngân sách nhà nước

    Quản lý chi ngân sách nhà nước là quá trình phân phối lại quỹ tiền tệ tập trung một cách có hiệu quả nhằm thực hiện chức năng của nhà nước trên cơ sở sử dụng hệ thống chính sách, pháp luật. Cùng Luận Văn 24 tìm hiểu rõ vấn dề này qua bài viết dưới đây.

    hinh-anh-ngan-sach-nha-nuoc-la-gi-1

    1. Ngân sách nhà nước là gì?

    Ngân sách nhà nước là toàn bộ các khoản thu chi của Nhà nước đã được cơ quan Nhà nước có thẩm quyền quyết định và được thực hiện trong một năm để đảm bảo thực hiện các chức năng nhiệm vụ của Nhà nước. (Theo Luật Ngân sách Nhà nước)

    Ngân sách nhà nước là một phạm trù kinh tế, lịch sử gắn liền với sự hình thành và phát triển của Nhà nước và của hàng hóa, tiền tệ. Nhà nước với tư cách là cơ quan quyền lực thực hiện duy trì và phát triển xã hội thường quy định các khoản thu mang tính bắt buộc các đối tượng trong xã hội phải đóng góp để đảm bảo chi tiêu cho bộ máy Nhà nước, quân đội, cảnh sát, giáo dục. Trải qua nhiều giai đoạn phát triển của các chế độ xã hội, nhiều khái niệm về ngân sách nhà nước đã được đề cập theo các góc độ khác nhau.

    Trong thực tiễn hoạt động Ngân sách nhà nước là hoạt động thu (tạo thu) và chi tiêu (sử dụng) quỹ tiền tệ của Nhà nước, làm cho nguồn tài chính vận động giữa một bên là Nhà nước với một bên là các chủ thể kinh tế, xã hội trong quá trình phân phối tổng sản phẩm quốc dân dưới hình thức giá trị.

    2. Đặc điểm của ngân sách nhà nước

    Đặc điểm của ngân sách nhà nước là gì? Ngân sách nhà nước bao gồm các đặc điểm cơ bản dưới đây:

    • Ngân sách nhà nước là toàn bộ các khoản thu chi của Nhà nước, được tiến hành dựa trên cơ sở những luật lệ nhất định.
    • Ngân sách nhà nước có tính pháp lý cao
    • Hoạt động của ngân sách nhà nước nhằm phục vụ lợi ích chung của cộng đồng và toàn bộ nền kinh tế xã hội
    • Ngân sách nhà nước bao gồm nhiều quỹ tiền tệ khác nhau

    hinh-anh-ngan-sach-nha-nuoc-la-gi-2

    3. Khái niệm chi ngân sách nhà nước 

    Chi ngân sách nhà nước là gì? Chi của ngân sách Nhà nước là quá trình phân phối, sử dụng quỹ ngân sách Nhà nước theo những nguyên tắc nhất định cho việc thực hiện các nhiệm vụ của Nhà nước. Thực chất chi ngân sách Nhà nước chính là việc cung cấp các phương tiện tài chính cho các nhiệm vụ của Nhà nước.

    Hiện tại, Luận Văn 24 chúng tôi đang cung cấp dịch vụ viết thuê luận văn thạc sĩ, luận văn cao học. Nếu bạn đang gặp những khó khăn trong quá trình hoàn thành bài luận văn, hãy để chúng tôi đồng hành giúp đỡ bạn hoàn thành tốt nhất bài luận văn của mình. Chi tiết dịch vụ viết thuê luận văn, xem tại: https://blogluanvan.com/viet-thue-luan-van/

    4. Các khoản chi Ngân sách nhà nước

    Trong các nền kinh tế thị trường và ở nước ta hiện nay, cách phân loại nội dung chi tiêu ngân sách Nhà nước theo tính chất kinh tế của các khoản chi được sử dụng phổ biến. Đây cũng là cách phân loại quan trọng nhất,nó trình bày nội dung chi tiêu của Chính phủ để qua đó người ta có thể nhận rõ và phân tích, đánh giá những chính sách, chương trình của Chính phủ thông qua các kinh phí để thực hiện các chương trình, chính sách đó.

    Theo tính chất kinh tế, chi ngân sách Nhà nước được chia ra các nội dung sau đây:

    Chi thường xuyên: Là những khoản chi không có trong khu vực đầu tư và có tính chất thường xuyên để tài trợ cho các hoạt động của các cơ quan Nhà nước nhằm duy trì “ đời sống quốc gia”. Về nguyên tắc, các khoản chi này phải được tài trợ bằng các khoản thu không mang tính hoàn trả (thu trong cân đối) của ngân sách Nhà nước.

    Chi thường xuyên gồm có:

    • Chi về chủ quyền quốc gia: Tức là các chi phí mà các cơ quan Nhà nước cần phải thực hiện để bảo vệ chủ quyền quốc gia, nhất là trên các lĩnh vực quốc phòng, an ninh, ngoại giao, thông tin đại chúng…
    • Chi phí liên quan đến sự điều hành và duy trì hoạt động của các cơ quan Nhà nước để thực hiện những nhiệm vụ được giao phó.
    • Chi phí do sự can thiệp của Nhà nước vào các hoạt động kinh tế, văn hoá, xã hội để cải thiện đời sống nhân dân. Những chi phí này thuộc loại chi phí chuyển nhượng, như: Trợ cấp cho các cơ quan Nhà nước để thực hiện các hoạt động sự nghiệp, trợ cấp cho các đối tượng chính sách xã hội, hỗ trợ quỹ bảo hiểm xã hội, trả lãi, nợ của Chính phủ.

    hinh-anh-ngan-sach-nha-nuoc-la-gi-3

    Chi đầu tư phát triển: Là tất cả các chi phí làm tăng thêm tài sản quốc gia, bao gồm:

    • Chi mua sắm máy móc, thiết bị và dụng cụ.
    • Chi xây dựng mới và tu bổ công sở, đường sá, kiến thiết đô thị.
    • Chi cho việc thành lập các doanh nghiệp Nhà nước, góp vốn vào các công ty, góp vốn vào  các đơn vị, tổ chức sản xuất kinh doanh.
    • Các chi phí chuyển nhượng đầu tư.
    • Những chi phí đầu tư liên quan đến sự tài trợ của Nhà nước dưới hình thức cho vay ưu đãi hoắc trợ cấp cho những pháp nhân kinh tế công hay tư để thực hiện các nhiệm vụ đồng loại với các nhiệm vụ nêu trên, nhằm thực hiện chính sách phát triển kinh tế của Nhà nước.

    Ngoài ra, còn có thể phân loại chi ngân sách Nhà nước theo cãc ngành kinh tế, theo tính chất của quá trình tái sản xuất xã hội.

    5. Quản lý chi Ngân sách nhà nước

    Quản lý chi Ngân sách nhà nước là quá trình thực hiện có hệ thống các biện pháp phân phối và sử dụng quỹ tiền tệ tập trung nhằm phục vụ chi tiêu cho bộ máy và thực hiện các chức năng của Nhà nước.

    Thực chất quản lý chi Ngân sách nhà nước là quá trình sử dụng các nguồn vốn chi tiêu của Nhà nước từ khâu lập kế hoạch đến khâu sử dụng  ngân sách đó nhằm đảm bảo quá trình chi tiết kiệm và hiệu quả, phù hợp với yêu cầu của thực tế đang đặt ra theo đúng chính sách chế độ của nhà nước phục vụ các mục tiêu KT-XH.

    Vấn đề quan trọng trong quản lý chi Ngân sách nhà nước là việc tổ chức quản lý giám sát các khoản chi sao cho tiết kiệm và có hiệu quả cao, muốn vậy cần  phải quan tâm các mặt sau:

    • Quản lý chi phải gắn chặt với việc bố trí các khoản chi làm cơ sở cho việc quản lý xây dựng quy chế kiểm tra, kiểm soát.
    • Bảo đảm yêu cầu tiết kiệm và hiệu quả trong việc bố trí và quản lý các khoản chi tiêu ngân sách nhà nước.
    • Quản lý chi phải thực hiện các biện pháp đồng bộ, kiểm tra giám sát trước, trong và sau khi chi.
    • Phân cấp quản lý các khoản chi cho các cấp chính quyền địa phương và các tổ chức trên cơ sở phải phân biệt rõ nhiệm vụ phát triển KT-XH của các cấp theo luật ngân sách để bố trí các khoản chi cho thích hợp.
    • Quản lý chi ngân sách phải kết hợp quản lý các khoản chi ngân sách thuộc vốn nhà nước với các khoản chi thuộc nguồn của các thành phần kinh tế để tạo ra sức mạnh tổng hợp, nâng cao hiệu quả chi.

    Quản lý chi ngân sách nhà nước là hoạt động không thể thiếu ở mọi quốc gia, hoạt động này không chỉ giúp tiết kiệm những khoản chi không cần thiết mà còn hạn chế tình trạng thâm hụt ngân sách, tham ô, đục khoét.

    hinh-anh-ngan-sach-nha-nuoc-la-gi-4

    6. Nguyên tắc quản lý ngân sách nhà nước

    Theo qui định của Luật NSNN, quản lý NSNN nói chung cần tuân thủ các nguyên tắc sau:

    6.1. Nguyên tắc đầy đủ, trọn vẹn

    Đây là một trong những nguyên tắc quan trọng nhất của quản lý NSNN. Nội dung của nguyên tắc này là: Mọi khoản thu, chi phải được ghi đầy đủ vào kế hoạch NSNN, mọi khoản chi phải được vào sổ và quyết toán rành mạch. Chỉ có kế hoạch NS đầy đủ, trọn vẹn mới phản ánh đúng mục đích chính sách và đảm bảo tính minh bạch của các tài khoản thu, chi.

    Nguyên tắc quản lý này nghiêm cấm các cấp, các tổ chức nhà nước lập và sử dụng quỹ đen. Điều này có ý nghĩa rằng mọi khoản thu chi của NSNN đều phải đưa vào kế hoạch NS để Quốc hội phê chuẩn, nếu không việc phê chuẩn ngân sách của Quốc hội sẽ không có căn cứ đầy đủ, không có giá trị.

    6.2. Nguyên tắc thống nhất trong quản lý NSNN

    Nguyên tắc thống nhất trong quản lý NSNN bắt nguồn từ yêu cầu tăng cường sức mạnh vật chất của Nhà nước. Biểu hiện cụ thể sức mạnh vật chất của Nhà nước là thông qua hoạt động thu – chi của NSNN. Nguyên tắc thống nhất trong quản lý NSNN nước được thể hiện:

    Mọi khoản thu – chi của NSNN phải tuân thủ theo những quy định của Luật NSNN, phải được dự toán hàng năm và được cơ quan có thẩm quyền phê duyệt.

    Tất cả các khâu trong chu trình NSNN khi triển khai thực hiện phải đặt dưới sự kiểm tra giám sát của cơ quan quyền lực, ở Trung ương là Quốc hội, ở địa phương là Hội đồng nhân dân.

    Hoạt động NSNN đòi hỏi phải có sự thống nhất với hoạt động kinh tế, xã hội của quốc gia. Hoạt động kinh tế, xã hội của quốc gia là nền tảng của hoạt động NSNN. Hoạt động NSNN phục vụ cho hoạt động kinh tế, xã hội, đồng thời là hoạt động mang tính chất kiểm chứng đối với hoạt động kinh tế, xã hội.

    6.3. Nguyên tắc cân đối Ngân sách

    NSNN được lập và thu – chi NS phải được cân đối. Nguyên tắc này đòi hỏi các khoản chi chỉ được phép thực hiện khi đó có đủ các nguồn thu bù đắp. Uỷ ban nhân dân và Hội đồng nhân dân luôn cố gắng để đảm bảo cân đối nguồn NSNN bằng cách đưa ra các quyết định liên quan tới các khoản chi để thảo luận và cắt giảm những khoản chi chưa thực sự cần thiết, đồng thời nỗ lực khai thác mọi nguồn thu hợp lý mà nền kinh tế có khả năng đáp ứng.

    hinh-anh-ngan-sach-nha-nuoc-la-gi-5

    6.4. Nguyên tắc công khai hóa NSNN

    Về mặt chính sách, thu – chi NSNN là một chương trình hoạt động của Chính phủ được cụ thể hoá bằng số liệu. NSNN phải được quản lý rành mạch, công khai để mọi người dân có thể biết nếu họ quan tâm. Nguyên tắc công khai của NSNN được thể hiện trong suốt chu trình và phải được áp dụng cho tất cả các cơ quan tham gia vào chu trình NSNN.

    6.5. Nguyên tắc rõ ràng, trung thực, chính xác

    Nguyên tắc này là cơ sở, tạo tiền đề cho mỗi người dân có thể nhìn nhận được chương trình hoạt động của Chính quyền địa phương và chương trình này phải được phản ánh ở việc thực hiện chính sách tài chính địa phương.

    Nguyên tắc này đòi hỏi NSNN được xây dựng rành mạch, có hệ thống; Các dự toán thu, chi phải được tính toán một cách chính xác và phải đưa vào kế hoạch NS; Không được che đậy và bào chữa đối với tất cả các khoản thu, chi NSNN; Không được phép lập quỹ đen, NS phụ.

    Bài viết trên đây chúng tôi đã tổng hợp và cung cấp đến cho bạn đọc những kiến thức cần thiết xoay quanh khái nhiệm ngân sách nhà nước là gì và chi ngân sách nhà nước. Mong rằng những thông tin trên sẽ hữu ích cho bạn trong quá trình học tập và làm việc. Nếu còn bất kỳ thắc mắc gì vui lòng liên hệ hotline 0988552424 để được tư vấn và hỗ trợ trực tiếp.

    Nguồn: Luanvan24.com