Blog

  • Cạnh tranh là gì? Vai trò và các loại hình cạnh tranh

    Cạnh tranh là gì? Vai trò và các loại hình cạnh tranh

    “Cạnh tranh là gì?” Có vô số thông tin xoay quanh vấn đề cạnh tranh và bạn đang loay hoay không biết nên chắt lọc như thế nào? Ngày hôm nay, Luận Văn 24 sẽ giải đáp cho bạn vấn đề đó. Bài viết dưới đây bao gồm 3 phần: Khái niệm cạnh tranh, các loại hình cạnh tranh và vai trò của cạnh tranh. Những thông tin dưới đây chắc chắn bạn sẽ nắm vững vấn đề cơ bản về cạnh tranh. 

    hinh-anh-canh-tranh-la-gi-1
    Cạnh tranh là gì?

    Khái niệm cạnh tranh là gì?

    Theo K. Marx (Các Mác): Cạnh tranh là sự ganh đua, đấu tranh gay gắt giữa các nhà tư bản nhằm giành giật những điều kiện thuận lợi trong sản xuất và tiêu dùng hàng hóa để thu được lợi nhuận siêu ngạch.

    Theo Từ điển Bách khoa Việt Nam: Cạnh tranh (trong kinh doanh) là hoạt động tranh đua giữa những người sản xuất hàng hoá, giữa các thương nhân, các nhà kinh doanh trong nền kinh tế thị trường, chi phối quan hệ cung cầu, nhằm dành các điều kiện sản xuất, tiêu thụ thị trường có lợi nhất.

    Như vậy, có thể thấy, đặt trong hoàn cảnh, lĩnh vực khác nhau, khái niệm “Cạnh tranh” sẽ khác ở một vài đặc điểm. Tuy nhiên, chúng ta có thể rút ra khái niệm chung về cạnh tranh như sau: 

    “Cạnh tranh là hành động đấu tranh chống lại các cá nhân hay các nhóm, các loài vì mục đích giành được sự tồn tại, giành được lợi nhuận, địa vị, các phần thưởng hay những thứ khác.”

    Đặt trong lĩnh vực kinh tế, cạnh tranh là quy luật của kinh tế thị trường. Bên cạnh đó, đây là việc sử dụng có hiệu quả các nguồn lực, các cơ hội của doanh nghiệp để giành lấy phần thắng, phần hơn về mình trước các doanh nghiệp khác trong quá trình kinh doanh. Đây cũng là yếu tố bảo đảm sự phát triển bền vững của một doanh nghiệp. 

    Các loại hình cạnh tranh

    Bên cạnh việc trả lời câu hỏi: “Cạnh tranh là gì?”, chúng ta cần trả lời một số câu hỏi khác như: “Có mấy loại hình cạnh tranh” để hiểu về cạnh tranh một cách rõ ràng hơn.

    Thứ nhất, căn cứ vào chủ thể tham gia thị trường

    • Cạnh tranh giữa người mua và người bán

    Người mua muốn mua hàng hóa với giá thấp nhất, còn người bán lại muốn bán hàng hóa của mình với giá cao nhất. Sau khi thương lượng giữa hai bên, giá cuối cùng sẽ được hình thành.

    • Cạnh tranh giữa người mua với người mua

    tùy thuộc vào mức độ cung cầu trên thị trường, mức độ cạnh tranh sẽ thay đổi. Khi lượng cung nhỏ hơn lượng cầu, giá cả hàng hóa sẽ tăng, cạnh tranh trở nên gay gắt, người mua phải chấp nhận giá cao hơn để mua được thứ mà họ cần.

    • Cạnh tranh giữa người bán và người bán

    Đây là cuộc cạnh tranh giữa các nhà cung cấp hàng hóa để tranh giành khách hàng và chiếm thị trường, dẫn đến giá cả hàng hóa sẽ giảm xuống có lợi cho người mua.

    hinh-anh-canh-tranh-la-gi-2
    Các loại hình cạnh tranh phổ biến

    Thứ hai, căn cứ vào phạm vi các ngành kinh tế 

    • Cạnh tranh trong nội bộ ngành

    Là sự cạnh tranh giữa các doanh nghiệp cùng sản xuất hoặc tiêu thụ một loại hàng hóa nhằm giành giật điều kiện sản xuất và tiêu thụ có lợi nhất để thu được lợi nhuận siêu ngạch.

    Ví dụ: Coca cola và Pespsi được coi là cạnh tranh trong nội bộ ngành nước giải khát có ga, hay như Samsung và Apple là các đối thủ cạnh tranh trong nội bộ ngành di động thông minh.

    • Cạnh tranh giữa các ngành với nhau

    Các doanh nghiệp ở các ngành kinh tế cạnh tranh với nhau với mục đích thu loại nhuận cao nhất về mình. Sự phân bổ vốn đầu tư giữa các ngành kinh tế một cách tự nhiên sẽ hình thành tỷ suất lợi nhuận bình quân.

    Thứ ba, căn cứ vào tính chất của việc cạnh tranh

    • Cạnh tranh hoàn hảo

    Cạnh tranh hoàn hảo xảy ra khi có nhiều người bán cùng một loại sản phẩm, không có sự khác biệt về mẫu mã, công dụng cạnh tranh với nhau nhưng không có ai đủ khả năng khống chế giá hàng hóa trên thị trường. Để có thể dẫn đầu trong cuộc cạnh tranh hoàn hảo này, người bán sẽ phải giảm giá hoặc tìm ra sự khác biệt trong sản phẩm của mình so với những người bán khác.

    • Cạnh tranh không hoàn hảo

    Là cuộc cạnh tranh giữa những người bán có sản phẩm không hoàn toàn giống nhau.

    • Cạnh tranh độc quyền

    Cạnh tranh độc quyền xảy ra khi trong thị trường có rất ít người bán hàng hóa, dịch vụ đó. Giá cả của sản phẩm sẽ do chính người bán quyết định, không dựa vào mối quan hệ cung – cầu.

    Cuối cùng, căn cứ vào thủ đoạn cạnh tranh

    • Cạnh tranh lành mạnh

    Là cuộc cạnh tranh không vi phạm pháp luật, phù hợp với chuẩn mực xã hội, diễn ra một cách công khai và công bằng với đôi bên.

    • Cạnh tranh không lành mạnh

    Là cuộc cạnh tranh trái với luật pháp, dựa vào những kẽ hở của pháp luật và bị xã hội lên án, ví dụ: trốn thuế, buôn bán lậu,…

    hinh-anh-canh-tranh-la-gi-3
    Cạnh tranh không lành mạnh

    Vai trò của cạnh tranh 

    Có thể nói, cạnh tranh là yếu tố cần có để tạo động lực phát triển, đi lên cho chủ thể trong các lĩnh vực khác nhau.

    Mặt tích cực của cạnh tranh 

    Xét trong lĩnh vực kinh tế, cạnh tranh là yếu tố không thể thiếu, có vai trò quan trọng trong nền sản xuất hàng hóa và các nền sản xuất kinh doanh khác. 

    • Cạnh tranh không những là động lực thúc đẩy nền kinh tế phát triển mà còn là yếu tố điều tiết hệ thống thị trường, khiến cho các mối quan hệ xã hội trở nên lành mạnh hơn.
    • Chính yếu tố cạnh tranh đã thúc đẩy các nhà kinh doanh cần không ngừng sáng tạo, đổi mới trong hoạt động sản xuất kinh doanh. Bên cạnh đó, cần sử dụng hiệu quả các nguồn tài nguyên, áp dụng khoa học – kĩ thuật trong sản xuất để nâng cao năng suất lao động.
    • Xét về tầm vi mô, cạnh tranh khiến nhà sản xuất phải tìm mọi cách để làm ra sản phẩm có chất lượng tốt hơn để đáp ứng với thị hiếu của người tiêu dùng.
    • Ngoài ra, đối với người tiêu dùng, khi có sự cạnh tranh, họ sẽ dễ dàng so sánh mặt hàng để tìm ra những sản phẩm có chất lượng tốt hơn, mẫu mã đa dạng, phong phú hơn, đáp ứng các yêu cầu của người tiêu dùng trong xã hội.

    Mặt tiêu cực của cạnh tranh 

    Cạnh tranh là yếu tố quan trọng trong việc sản xuất, phát triển và kinh doanh. Tuy nhiên, cạnh tranh như thế nào là lành mạnh? Đó mới là mấu chốt vấn đề. Rất nhiều người không áp dụng việc cạnh tranh lành mạnh, dẫn đến hàng loạt những vấn đề tiêu cực như: 

    • Cạnh tranh làm thay đổi cấu trúc xã hội trên phương diện sở hữu của cải, từ đó, gây ra hiện tượng lạm quyền, độc quyền, hình thành sự phân hóa giàu nghèo một cách mạnh mẽ.
    • Chính bởi việc không hiểu rõ bản chất của cạnh tranh lành mạnh trong kinh doanh, rất nhiều người đã sử dụng những thủ đoạn xấu xa để chuộc lợi cá nhân một cách bất hợp pháp. 

    Như vậy, trên đây là câu trả lời cho câu hỏi: “Cạnh tranh là gì?” mà Luận Văn 24 dành cho bạn. Chúng tôi tin rằng, với những thông tin trên, bạn sẽ hiểu về vấn đề cạnh tranh một cách rõ ràng hơn cả. Nếu bạn có điều gì thắc mắc, hãy liên hệ với chúng tôi qua SĐT: 0988 55 2424 hoặc Email: luanvan24@gmail.com để được tư vấn và giải đáp trực tiếp.

    Nguồn: Luanvan24.com

  • Hành vi người tiêu dùng và các yếu tố ảnh hưởng đến nó

    Hành vi người tiêu dùng và các yếu tố ảnh hưởng đến nó

    Cơ sở lý thuyết về hành vi người tiêu dùng tuy không phải là vấn đề khó nhưng vẫn còn khiến rất nhiều người phân vân khi tìm hiểu về nó. Trong bài viết này, Luận Văn 24 một số lý thuyết cũng như những nhân tố ảnh hưởng đến hành vi người tiêu dùng một các khái quát và dễ hiểu nhất đến bạn đọc.

    hinh-anh-hanh-vi-nguoi-tieu-dung-1

    1. Các quan điểm về hành vi người tiêu dùng

    Hành vi người tiêu dùng là một khái niệm bao hàm nhiều nội dung, được sử dụng rộng rãi trong nhiều lĩnh vực với nhiều cách tiếp cận. Các nhà kinh tế học cổ điển định nghĩa hành vi người tiêu dùng là một sự lựa chọn hợp lý. Samuelson (1938) cho rằng hành vi của một cá nhân có thể được xem như là một loạt các lựa chọn hợp lý. 

    Lựa chọn hợp lý là lựa chọn những hành động tốt nhất thỏa mãn mục tiêu cá nhân. Chính sự lựa chọn hợp lý này cho phép dự đoán được hành vi tiêu dùng. Lựa chọn hợp lý là hành vi có thể lượng hoá được thông qua tối đa hoá một số hàm toán học phù hợp với các biến số hành vi và môi trường. Khi môi trường thay đổi, hành vi người tiêu dùng cũng thay đổi theo, tuân theo quy luật hàm số toán học. 

    Theo quan điểm của kinh tế học, người tiêu dùng được giả định là con người duy lý. Vì vậy, hành vi tiêu dùng là những hành động một cách tốt nhất có thể để con người đạt được mục tiêu mong muốn của mình. 

    Theo quan điểm marketing, các nhà nghiên cứu marketing xem xét hành vi của người tiêu dùng là hành vi của người mua. Hành vi mua của người tiêu dùng là hành vi mua của người tiêu dùng cuối cùng bao gồm các cá nhân và hộ gia đình mua hàng hoá và dịch vụ để tiêu dùng cá nhân. Quan điểm này phản ánh sự tương tác giữa người tiêu dùng và nhà sản xuất tại thời điểm mua hàng.

    Theo quan điểm hành vi người của tiêu dùng, hành vi người tiêu dùng là những hành vi cụ thể của một cá nhân khi quyết định mua sắm, sử dụng, và loại bỏ sản phẩm hay dịch vụ. Khi này, hành người tiêu dùng được xem xét dựa trên hành vi mua khi người tiêu dùng đóng cả ba vai trò: người thanh toán, người mua và người sử dụng. 

    Hành vi người tiêu dùng theo quan điểm kinh tế học được tính toán dựa trên các khái niệm liên quan đến lợi ích và với giả định rằng họ bị giới hạn bởi các nguồn lực. Trong khi đó, từ quan điểm marketing, các nhà nghiên cứu sẽ xem xét vấn đề hành vi tiêu dùng trong mối quan hệ tương tác giữa người mua, người bán và thông tin, được tiếp cận nhiều hơn từ khía cạnh các yếu tố có tính chất tâm lý, xã hội thực tế.

    hinh-anh-hanh-vi-nguoi-tieu-dung-2

    Ngày nay, hầu hết các nhà nghiên cứu đều cho rằng hành vi của người tiêu dùng thực chất là một quá trình liên tục, không đơn thuần là những gì sẽ xảy ra tại thời điểm người tiêu dùng thực hiện thanh toán để nhận được hàng hóa và dịch vụ (thời điểm mua hàng).

    Hành vi người tiêu dùng bao gồm nhiều giai đoạn khác nhau hay là một tiến trình diễn ra liên tục trong một khoảng thời gian, bao gồm toàn bộ những hoạt động liên quan trực tiếp tới quá trình tìm kiếm, thu thập, mua sắm, sở hữu, sử dụng, loại bỏ sản phẩm.

    Hành vi người tiêu dùng được hiểu là một loạt các quyết định (nên hay không nên, cái gì, tại sao, như thế nào, khi nào, nơi nào, v.v.) về việc tiêu dùng (bao gồm việc mua, sử dụng và loại bỏ) một sản phẩm (hàng hóa, dịch vụ, hoạt động, kinh nghiệm, con người, ý tưởng) thông qua quá trình ra quyết định (thu thập thông tin, ảnh hưởng, quyết định, mua, sử dụng) theo thời gian (giờ, ngày, tuần, tháng, năm).

    Nói cách khác, hành vi của người tiêu dùng là một quá trình của cá nhân hay của một nhóm người khi lựa chọn, mua sắm, sử dụng hoặc loại bỏ sản phẩm, dịch vụ, ý tưởng, hoặc những kinh nghiệm, nhằm thỏa mãn nhu cầu hay ước muốn của họ thông qua quá trình ra quyết định theo thời gian.

    Theo quan điểm tâm lý học, các nhà tâm lý học định nghĩa hành vi người tiêu dùng là toàn bộ các hoạt động, thái độ và những quyết định về việc sử dụng thu nhập để mua hàng hóa, dịch vụ và tiết kiệm. Lĩnh vực chính của nhà tâm lý học là nghiên cứu ảnh hưởng của quảng cáo, ý kiến, thái độ của khách hàng, phân khúc thị trường tâm lý học, thử nghiệm sản phẩm, và môi trường nghiên cứu tới hành vi người của tiêu dùng

    Như vậy, hành vi người tiêu dùng bao gồm cả suy nghĩ, nhận thức, cảm nhận mà người tiêu dùng có được và những dự định, hành động mà người tiêu dùng thực hiện trong quá trình tiêu dùng. Những yếu tố từ môi trường bên ngoài như gia đình, xã hội, ý kiến từ những người tiêu dùng khác, quảng cáo, thông tin về giá cả, bao bì, hình thức sản phẩm v.v đều có thể tác động đến nhận thức, suy nghĩ, thái độ và hành vi của người tiêu dùng.

    Hành vi người tiêu dùng là một sự lựa chọn hợp lý, là lựa chọn những hành động tốt nhất thỏa mãn mục tiêu cá nhân. Hành vi người tiêu dùng là những suy nghĩ, nhận thức hay cảm nhận và thái độ của người tiêu dùng, cũng như những dự định, hành động mà người tiêu dùng thực hiện trong quá trình sử dụng hay tiêu dùng hàng hoá.

    hinh-anh-hanh-vi-nguoi-tieu-dung-3

    2. Lý thuyết quá trình ra quyết định của người tiêu dùng 

    Những năm gần đây, ngày càng nhiều nghiên cứu công nhận rằng, ngoài các yếu tố kinh tế như chi phí, thu nhập và thời gian, các yếu tố cá nhân chủ quan khác như nhận thức, niềm tin, thái độ, và sở thích hoặc yếu tố gia đình, xã hội có thể đóng vai trò chủ chốt trong quá trình ra quyết định của người tiêu dùng.

    Những tiếp cận mới trong nghiên cứu hành vi đã thể hiện sự quan tâm ngày càng nhiều của các nhà nghiên cứu đối với các lý thuyết tâm lý học, đặc biệt trong lĩnh vực tâm lý học hành vi về nhận thức, môi trường và xã hội. 

    Lý thuyết ra quyết định của người tiêu dùng trong phân tích hành vi là việc vận dụng các nguyên lý kinh tế, kết hợp với tâm lý học giải thích tiêu dùng kinh tế của người tiêu dùng. Các lý thuyết hay mô hình ra quyết định khác nhau thể hiện việc ra quyết định của người tiêu dùng, tuy nhiên không có lý thuyết hay mô hình nào có thể giải thích được tất cả các quyết định.

    Do ảnh hưởng của yếu tố bên trong hoặc bên ngoài, người tiêu dùng đôi khi đưa ra các quyết định đột ngột, không theo quá trình tuần tự. Vì vậy, các mô hình không có ý định mô tả mọi quyết định, nhưng đều cố gắng tìm hiểu và giải thích những đặc điểm chung của quá trình ra quyết định tuần tự trong phần lớn các trường hợp, khi người tiêu dùng đưa ra quyết định mua hoặc không mua, sử dụng hoặc không sử dụng, hay loại bỏ sản phẩm. 

    Các mô hình ra quyết định của người tiêu dùng trong lĩnh vực kinh tế học dựa trên nguyên lý lựa chọn hợp lý. Hành vi của người tiêu dùng là một quá trình lựa chọn hay cũng chính là quá trình ra quyết định gồm nhiều giai đoạn. Theo Louvier và cộng sự (2000), các giai đoạn trong quá trình ra quyết định được thực hiện bởi mỗi người tiêu dùng, phù hợp với lý thuyết lựa chọn kinh tế hợp lý.

    hinh-anh-hanh-vi-nguoi-tieu-dung-4

    người tiêu dùng được giả thiết sẽ kỳ vọng học hỏi một cách chủ động/hay thụ động về các lựa chọn thay thế sẵn có để thỏa mãn nhu cầu của mình. người tiêu dùng có thể kiểm tra tất cả các thông tin sẵn có. Trong giai đoạn này, người tiêu dùng học hỏi về giá trị thuộc tính của sản phẩm, và bất kỳ sự kết hợp không chắc chắn nào.

    Khi đánh giá và so sánh các lựa chọn, người tiêu dùng hình thành hàm lợi ích (hay hàm mục tiêu). Theo giả thiết, sự hợp lý kinh tế là việc người tiêu dùng đặt mục tiêu tối đa hóa lợi ích của mình, bao hàm việc định giá và đánh đổi các thuộc tính sản phẩm, những thuộc tính có ý nghĩa quan trọng trong quá trình ra quyết định.

    Do bị giới hạn về ngân sách, giả thiết người tiêu dùng hình thành sở thích từ những lựa chọn sẵn có. Sau đó, người tiêu dùng sẽ chọn một trong những lựa chọn ưa thích của mình, hoặc có khả năng quyết định không chọn bất kỳ một lựa chọn sẵn có nào.

    Quá trình lựa chọn mô tả bên trên bao hàm một chuỗi các yếu tố tinh thần bên trong liên kết với nhiều thuộc tính lựa chọn. Mô hình giả định rằng người tiêu dùng luôn chọn những lựa chọn có thuộc tính tốt hơn, phù hợp với giả định tối đa hóa lợi ích và người tiêu dùng hợp lý.

    Tuy nhiên, người nghiên cứu không quan sát được quá trình tâm lý cơ bản hay những yếu tố tinh thần trong quá trình ra quyết định. Khi các thuộc tính thay đổi thì quyết định lựa chọn của người tiêu dùng cũng thay đổi theo, phù hợp với lý thuyết lựa chọn hợp lý.

    hinh-anh-hanh-vi-nguoi-tieu-dung-5

    Người tiêu dùng trong hoàn cảnh nhất định, với các kích thích bên ngoài như giá sản phẩm, đặc tính sản phẩm, truyền thông, dịch vụ, sự khác biệt cùng với môi trường xã hội của người tiêu dùng (địa vị hoặc tầng lớp xã hội) cũng như các đặc điểm nhân khẩu – xã hội học là những kích thích trực tiếp bên ngoài và có thể đo lường được, tác động lên hành vi người tiêu dùng.

    Nhưng quá trình tâm lý học trong mỗi cá nhân chỉ có thể đo lường gián tiếp theo cấu trúc tâm lý học như thái độ, cảm xúc, và động cơ đối với sản phẩm. Dựa vào thái độ, động cơ và cảm xúc đối với sản phẩm, người tiêu dùng sẽ thích hay không thích sản phẩm. Ngoài ra, quá trình tâm lý học cũng là một quá trình nhận biết, ghi nhớ và học tập, do vậy, nó sẽ gắn kết với quá trình nhận thức.

    Tuy nhiên, để hiểu rõ và trả lời được câu hỏi tại sao hay nguyên nhân dẫn đến hành vi người của tiêu dùng không phải là dễ dàng vì quá trình tâm lý học thường xảy ra bên trong não bộ. Hơn nữa, hành vi người tiêu dùng còn bị chi phối ở những mức độ khác nhau bởi các yếu tố: văn hóa, xã hội, hoàn cảnh cá nhân và các yếu tố tâm lý khác.

    Hiện tại, Luận Văn 24 đang cung cấp dịch vụ viết tiểu luận thuê, luận văn ngành kinh tế,  tài chính. Nếu bạn bận rộn không có thời gian để hoàn thành hay gặp bất cứ khó khăn nào trong việc hoàn thành bài luận, hãy để chúng tôi đồng hành cùng bạn giải quyết mọi vấn đề. Với kinh nghiệm và đội ngũ trình độ cao, chúng tôi cam kết sẽ mang đến cho bạn nhiều lợi ích nhất.

    2. Các yếu tố tác động tới hành vi người tiêu dùng  

    Người tiêu dùng luôn mong muốn điều kiện tốt nhất với nỗ lực nhỏ nhất để đáp ứng nhu cầu của mình. Với điều kiện ràng buộc về thu nhập, và một số giới hạn nhất định, người tiêu dùng phải đưa ra quyết định sử dụng hợp lý thu nhập như xác định cơ cấu chi tiêu phù hợp để đạt được lợi ích tốt nhất. Kinh tế là ngành học đầu tiên nghiên cứu vấn đề này và cho biết quá trình hay các bước dẫn đến hành vi người tiêu dùng. 

    Lý thuyết kinh tế cổ điển quan niệm hành vi của người tiêu dùng luôn là một sự lựa chọn hợp lý về kinh tế và tối đa hóa lợi ích. Quyết định lựa chọn, mua hàng và tiêu dùng sản phẩm là hợp lý và nhận thức hiệu quả các phép tính kinh tế.

    hinh-anh-hanh-vi-nguoi-tieu-dung-6

    Vì vậy người tiêu dùng lựa chọn, mua, tiêu dùng những hàng hóa với những thuộc tính thay thế khác nhau nhằm đáp ứng tốt nhất nhu cầu, thị hiếu phù hợp và giá cả phải trả hợp lý. Khi thuộc tính hàng hóa và đặc điểm cá nhân người tiêu dùng thay đổi, hành vi người tiêu dùng cũng thay đổi.

    Các nhà nghiên cứu Engel, Kollat và Blackwell (1967), Kottler (1967, 1999), Howard và Ostlund (1973), Tuck (1976), Foxall (1983), Louvier và cộng sự (2000), Kroeber – Riel và Weinberg (2003), Engel, Blackwell and Miniard (2006) [52], Kotler & Amstrong (2014) [70], Solomon (2013) [86] quan niệm hành vi của người tiêu dùng là một quá trình liên tục qua nhiều giai đoạn.

    Quá trình này phụ thuộc vào các yếu tố kích thích bên ngoài và các nhân tố nội tại bên trong tạo ra phản ứng hành vi của người tiêu dùng. Các lý thuyết quá trình ra quyết định đều được biểu hiện bằng mô hình hay sơ đồ, bao gồm một số yếu tố đại diện cho nhiều ảnh hưởng khác nhau về kinh tế, văn hóa – xã hội, và tâm lý học tới quá trình ra quyết định của người tiêu dùng.

    Các mô hình quá trình ra quyết định đã chỉ rõ những yếu tố kích thích bên ngoài tác động tới người tiêu dùng như thế nào khi họ ra quyết định đối với một sản phẩm. Tuy nhiên các yếu tố nội tại tâm lý học bên trong như thái độ, cảm xúc, động cơ, tình cảm v.v. của quá trình ra quyết định để giải thích tại sao hay lý do nào tạo nên phản ứng của người tiêu dùng thì vẫn còn là một khoảng trống. 

    Các nhà tâm lý học hành vi đã giải thích khoảng trống này bằng lý thuyết tâm lý học, nghiên cứu các khía cạnh khác nhau xảy ra bên trong hay ‘hộp đen’ của người tiêu dùng. Hành vi thực hiện bị ảnh hưởng trực tiếp bởi dự định hành vi.

    Dự định là tiền đề gần nhất tạo nên hành vi và chịu ảnh hưởng của các yếu tố thuộc về tâm lý học như nhận thức, thái độ, niềm tin, cảm xúc, sở thích hoặc yếu tố gia đình, xã hội, môi trường. Thay vì nghiên cứu về hành vi thực hiện, dự định hành vi đã được nghiên cứu trong các mô hình về hành vi của người tiêu dùng. 

    Nhiều tác giả đã nghiên cứu về hành vi người tiêu dùng với nhiều cách tiếp cận khác nhau. Hành vi người tiêu dùng bị ảnh hưởng bởi nhiều yếu tố, do vậy khi nghiên cứu và phân tích hành người tiêu dùng, nhà nghiên cứu có thể vận dụng kiến thức tổng hợp từ các lĩnh vực khác nhau như kinh tế, tâm lý học, tâm lý xã hội học, nhân khẩu học, pháp luật. 

    hinh-anh-hanh-vi-nguoi-tieu-dung-7

    Hành vi của người tiêu dùng có thể là một hệ thống cấu trúc bao gồm các yếu tố cùng với các nhân tố thành phần tương tác chặt chẽ và trực tiếp với nhau. Các yếu tố hoặc nhân tố thành phần này, theo thời gian, có thể thay đổi và ảnh hưởng với mức độ khác nhau tới hành vi người tiêu dùng. 

    Hành vi người tiêu dùng có thể được giải thích bởi tất cả các yếu tố hoặc một vài yếu tố nghiên cứu quan trọng, trong đó mỗi yếu tố là một biến số nội sinh hoặc ngoại sinh ảnh hưởng tới hành vi của người tiêu dùng. Yếu tố quyết định hành vi người tiêu dùng về việc mua hoặc sử dụng sản phẩm không đơn thuần là nhu cầu vật chất, không chỉ lệ thuộc hoàn toàn vào sức mua (giá cả, thu nhập).

    Hầu hết các lý thuyết xem xét hành vi người tiêu dùng là một hàm được xác định bởi những đặc điểm văn hóa, xã hội và đặc điểm cá nhân. Lịch sử văn hóa của cá nhân có ảnh hưởng đáng kể đến hành vi và các quyết định của người tiêu dùng. Các yếu tố văn hóa – xã hội như tầng lớp và địa vị xã hội, gia đình và hành vi nhóm (nhóm tham khảo), trình độ văn hóa và nghề nghiệp có ảnh hưởng nhất định tới suy nghĩ, cảm xúc và hành vi người tiêu dùng. 

    Những đặc điểm cá nhân chủ chốt có tác động tới hành vi của người tiêu dùng bao gồm độ tuổi, trình độ, nghề nghiệp, tình hình kinh tế của mỗi người (thu nhập), động cơ, nhận thức, học tập, niềm tin và thái độ, tính cách và hình ảnh bản thân, cuộc đời, sự thay đổi sở thích của người tiêu dùng đối với sản phẩm, và những nhu cầu khác đều tác động tới hành vi người tiêu dùng. Thu nhập liên quan đến hành vi của người tiêu dùng khi phải đưa ra những quyết định lựa chọn hợp lý về chất lượng sản phẩm và giá cả. 

    Hành vi người tiêu dùng có thể được nghiên cứu theo hướng tiếp cận tâm lý học. Hướng tiếp cận này giúp làm sáng tỏ những yếu tố tâm sinh lý đối với NTD. Các lý thuyết tâm lý học liên quan đo lường mức độ ảnh hưởng của nhận thức, thái độ, động cơ, v.v. và mức thay đổi ảnh hưởng tương ứng của các yếu tố này đối với hành vi người tiêu dùng.

    hinh-anh-hanh-vi-nguoi-tieu-dung-8

    Như vậy, có thể thấy rõ, các lý thuyết hành vi của người tiêu dùng chủ yếu được xây dựng trên lý thuyết lợi ích. Quyết định của người tiêu dùng về một sản phẩm nào (lựa chọn, mua, sử dụng hay loại bỏ) dựa trên những quyết định nhằm tối đa hoá lợi ích người tiêu dùng.

    Quá trình ra quyết định của người tiêu dùng bị ảnh hưởng bởi nhiều yếu tố khác nhau: thuộc tính hay tính năng của sản phẩm, giá sản phẩm, thu nhập người tiêu dùng, đặc điểm nhân khẩu – xã hội học của người tiêu dùng, các yếu tố về môi trường, văn hoá, doanh nghiệp, các yếu tố thuộc về tâm lý học người tiêu dùng như thái độ, nhận thức của người tiêu dùng, v.v. 

    Trên đây là bài viết tham khảo cung cấp kiến thức đầy đủ để bạn hiểu được một số quan điểm về hành vi người tiêu dùng và các nhân tố ảnh hưởng đến hành vi của người tiêu dùng. Trong quá trình tìm hiểu, nếu có bất kì ý kiến thắc mắc xin liên hệ qua hotline 0988 55 2424 của Luận Văn 24 để được đội ngũ chuyên gia tư vấn giúp đỡ.

    Nguồn: Luanvan24.com

  • Hướng dẫn làm báo cáo thực tập Marketing hay, ấn tượng nhất

    Hướng dẫn làm báo cáo thực tập Marketing hay, ấn tượng nhất

    Marketing cũng giống như các ngành học khác, các bạn sinh viên đều sẽ phải trải qua kỳ thực tập, làm luận văn và báo cáo thực tập marketing. Tuy nhiên, mỗi ngành học lại có những cách làm báo cáo và nội dung báo cáo riêng biệt. Vậy nội dung và cách làm báo cáo thực tập Marketing như thế nào?

    hinh-anh-bao-cao-thuc-tap-marketing-1
    Hướng dẫn làm báo cáo thực tập Marketing

    Luận Văn 24 sẽ hướng dẫn cho bạn ngay sau đây. Đồng thời chúng tôi cũng sẽ cung cấp cho các bạn mẫu đề cương báo cáo thực tập marketing hay nhất năm 2020 để các bạn tham khảo và vận dụng.

    Các yếu tố tạo nên bài báo cáo thực tập marketing chất lượng

    Các bạn sinh viên marketing chắc hẳn đã nghe đến đến bài báo cáo thực tập marketing, nhưng trong số đó lại có một số lượng lớn các bạn không biết nội dung chính của báo cáo này là gì, cấu trúc của bài báo cáo ra sao và yêu cầu của một bài báo cáo thực tập hay, chất lượng là gì? Chúng ta sẽ cùng nhau đi tìm hiểu tất cả các kiến thức này.

    Trước hết chúng tôi sẽ cung cấp cho bạn các yếu tố giúp tạo nên bài báo cáo thực tập tốt nghiệp marketing. Có thể bạn không biết, để có được một bài báo cáo chất lượng bạn cần phải làm tốt ngay từ khi lựa chọn cơ sở thực tập và nỗ lực làm việc trong quá trình thực tập của mình. Cụ thể, các yếu tố đó bao gồm:

    Chọn cơ sở thực tập uy tín

    Thường các trường sẽ yêu cầu bạn lựa chọn một cơ sở thực tập có thời gian hoạt động từ 3 năm trở lên. Bởi những doanh nghiệp đáp ứng được yêu cầu này sẽ có tình hình kinh doanh tương đối ổn định, bộ máy hoạt động, quản lý tương đối chặt chẽ, rõ ràng.

    Nếu bạn lựa chọn một doanh nghiệp hoạt động không rõ ràng, mới thành lập thì bạn sẽ không đáp ứng yêu cầu của nhà trường là điều thứ nhất. Thứ hai là lượng thông tin mà bạn thu thập được cũng sẽ rất mơ hồ, không có tính chất minh bạch, không được thực tế, thậm chí là sai lệch. Như vậy thì khi làm báo cáo các nội dung của bạn sẽ bị lủng củng và bị đánh giá không tốt.

    Trình bày đầy đủ nội dung

    Trước khi thực tập, bạn cần phải tìm hiểu các nội dung mà nhà trường yêu cầu trong báo cáo thực tập marketing để có sự chuẩn bị sẵn cho mình. Sau đó, bạn nên làm một đề cương sơ bộ cho bài báo cáo của mình. Dựa vào đề cương, bạn sẽ biết mình cần tìm hiểu cái gì, cần ghi chép lại nội dung nào trong quá trình thực tập để phục vụ cho việc làm báo cáo và tránh bỏ sót nội dung quan trọng.

    Chú ý: Tất cả nội dung mà trường, khoa của bạn yêu cầu, bạn nhất định phải chuẩn bị và trình bày đầy đủ trong báo cáo thực tập marketing của mình tránh bị mất điểm đáng tiếc. Hãy nhớ, cho dù các phần khác bạn có viết hay đến mấy thì phần nào nó có điểm số riêng của phần đó, thiếu phần nào, trừ điểm phần đó, chúng không liên quan đến nhau.

    hinh-anh-bao-cao-thuc-tap-marketing-2
    Trình bày đầy đủ nội dung

    Tuân thủ cách thức trình bày theo quy định

    Trước khi xem xét đến nội dung của báo cáo, cách thức trình bày là thứ mà giảng viên sẽ đánh giá trước. Nếu chưa đến hạn cuối cùng, giảng viên vẫn có thể yêu cầu bạn sửa. Nhưng khi đã đến hạn cuối mà bài của bạn vẫn mắc lỗi thì điểm thấp là chuyện đương nhiên.

    Có một sự thật là, nếu bài báo cáo được trình bày không đúng với quy định, rất nhiều giảng viên thậm chí không muốn chấm bài cho bạn. Họ sẽ đánh giá bạn là người cẩu thả, không cẩn thận, không đặt tâm huyết cho sản phẩm của mình.

    Vì vậy đừng vì một chút lười biếng mà đánh đổi toàn bộ quá trình, hãy tìm hiểu kĩ các yêu cầu về cách thức trình bày báo cáo thực tập marketing để có được một bài báo cáo với hình thức đẹp mắt, khoa học.

    Thường thì mỗi trường sẽ có yêu cầu riêng với bài báo cáo thực tập, tuy nhiên vẫn có những điểm tương đồng cơ bản như sử dụng font chữ Time New Roman, cỡ chữ 13, khoảng cách giữa các dòng là 1.5, màu chữ đen, không co ép chữ, sử dụng khổ giấy A4 để làm bài,…

    Sử dụng ngôn ngữ khoa học

    Báo cáo thực tập marketing là một sản phẩm khoa học nên bạn phải sử dụng ngôn ngữ khoa học, trang trọng để viết bài. Không nên dùng văn phong báo chí, xã hội trong báo cáo, bạn sẽ bị đánh giá thấp bởi khi ấy nội dung bài báo cáo của bạn không còn giống tính chất của một bài làm về khoa học nữa.

    Đặc biệt tránh sử dụng từ “nó” để thay thế cho các chủ ngữ trong lời mở đầu. Đây là kinh nghiệm mà chúng tôi đã rút ra được sau nhiều năm nghiên cứu. Hầu hết thầy cô giảng viên đều không có cảm tình tốt với từ ngữ này.

    Cấu trúc bài báo cáo thực tập marketing

    Cấu trúc báo cáo thực tập marketing được sử dụng phổ biến và hiệu quả nhất.

    Lời mở đầu

    Lời cảm ơn

    Lời cam kết

    Chương 1: Tổng quan về đơn vị, cơ sở tham gia thực tập

    1.1. Giới thiệu chung về cơ sở, đơn vị thực tập

    Tên, mã số thuế, ngày thành lập, ngày chính thức hoạt động

    Tầm nhìn, sứ mệnh, mục tiêu của doanh nghiệp

    Quy mô về diện tích, cơ sở, tài chính, nhân sự

    1.2. Quá trình hình thành và phát triển

    Trình bày các mốc thời gian quan trọng trong quá trình phát triển của doanh nghiệp.

    1.3. Cơ cấu tổ chức

    Vẽ sơ đồ cơ cấu tổ chức của doanh nghiệp, nêu rõ chức năng của từng bộ phận.

    Vẽ sơ đồ của phòng, ban thực tập, nêu các công việc thực hiện.

    1.4. Ngành nghề kinh doanh

    Liệt kê đầy đủ các ngành nghề kinh doanh hiện tại của doanh nghiệp.

    1.5. Kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp trong 3 năm gần nhất.

    Vẽ bảng số liệu và trình bày ngắn gọn nguyên nhân của những biến động số liệu kinh doanh.

    Tha

    hinh-anh-bao-cao-thuc-tap-marketing-3
    Thống kê số liệu kết quả kinh doanh trong 3 năm gần nhất

    Chương 2: Thực trạng hoạt động marketing tại doanh nghiệp

    2.1. Phân tích môi trường vĩ mô và môi trường ngành

    Môi trường vĩ mô gồm kinh tế, chính trị – pháp luật, văn hóa – xã hội, nhân khẩu học, điều kiện tự nhiên, công nghệ.

    Môi trường ngành gồm đối thủ cạnh tranh, nhà cung cấp, khách hàng, sản phẩm thay thế, đối thủ cạnh tranh tiềm ẩn.

    2.2. Phân tích môi trường bên trong doanh doanh nghiệp

    Gồm tài chính, nhân lực, công nghệ, trang thiết bị, sản phẩm.

    2.3. Phân tích hoạt động marketing tại doanh nghiệp

    Phân tích theo 4P: Sản phẩm, giá thành, phân phối và xúc tiến.

    2.4. Phân tích hoạt động logistic

    Chương 3: Đánh giá và kiến nghị

    • Ưu điểm và nguyên nhân
    • Nhược điểm và nguyên nhân
    • Đề xuất hướng giải quyết những vấn đề còn tồn tại của doanh nghiệp.

    Kết luận

    Đề xuất hướng nghiên cứu đề tài khóa luận tốt nghiệp dựa theo những phân tích và đánh giá ưu nhược điểm ở trên (3-5 định hướng).

    Mẫu đề cương báo cáo thực tập marketing chi tiết

    Để giúp các bạn định hình rõ hơn về cấu trúc của một bài báo cáo thực tập marketing, Luận Văn 24 xin gửi tới bạn mẫu đề cương báo cáo thực tập marketing hay nhất.

    Download

    Trên đây là hướng dẫn cách làm báo cáo thực tập tốt nghiệp marketing cùng mẫu cấu trúc báo cáo thực tập marketing chi tiết mà Luận Văn 24 đã tổng hợp cho bạn. Hãy làm theo những hướng dẫn của chúng tôi để đạt điểm số cao nhất cho bài báo cáo của mình nhé. Nếu bạn có bất kỳ thắc mắc nào hãy liên hệ với chúng tôi qua số điện thoại 0988 55 2424 hoặc qua email luanvan24@gmail.com để được tư vấn và hỗ trợ.

    Nguồn: Luanvan24.com

  • Các phương pháp thu thập dữ liệu trong nghiên cứu Marketing

    Các phương pháp thu thập dữ liệu trong nghiên cứu Marketing

    Thu thập dữ liệu là một phần rất quan trọng khi nghiên cứu về một vấn đề hay một đề tài nào đó. Vậy có những phương pháp thu thập dữ liệu nào phù hợp với bài nghiên cứu của bạn, hãy cùng Luận Văn 24 tìm hiểu qua bài viết dưới đây.

    hinh-anh-cac-phuong-phap-thu-thap-du-lieu-1

    1. Thu thập dữ liệu là gì?

    Thu thập dữ liệu là một giai đoạn có ý nghĩa vô cùng quan trọng đối với quá trình nghiên cứu các hiện tượng kinh tế xã hội. Tuy nhiên việc thu thập dữ liệu lại thường tốn nhiều thời gian, công sức và chi phí; do đó cần phải nắm chắc các kỹ thuật thu thập dữ liệu.

    2. Các phương pháp thu thập dữ liệu trong nghiên cứu Marketing

    2.1. Phương pháp quan sát (observation)

    Quan sát là phương pháp thu thập dữ liệu bằng cách ghi lại có kiểm soát các sự kiện hoặc các hành vi ứng xử của con người. Phương pháp thu thập dữ liệu này khá tiện dụng thường được dùng kết hợp với các phương pháp khác để kiểm tra chéo độ chính xác của dữ liệu thu thập.

    Bao gồm:

    • Quan sát trực tiếp và quan sát gián tiếp: Quan sát trực tiếp là tiến hành quan sát khi sự kiện đang diễn ra. Ví dụ: Quan sát thái độ của khách hàng khi thưởng thức các món ăn của một nhà hàng
    • Quan sát ngụy trang và quan sát công khai: Quan sát ngụy trang có nghĩa là đối tượng được nghiên cứu không hề biết họ đang bị quan sát. Ví dụ: Bí mật quan sát mức độ phục vụ và thái độ đối xử của nhân viên.
    • Người quan sát hay quan sát bằng thiết bị: Quan sát do con người nghĩa là dùng giác quan con người để quan sát đối tượng nghiên cứu. Ví dụ: Kiểm kê hàng hóa; quan sát số người ra vào ở các trung tâm thương mại.
    • Quan sát có cấu trúc hay không cấu trúc Quan sát có cấu trúc là quan sát hành vi nào trước, hành vi nào sau. Ngược lại, quan sát không theo cấu trúc là không giới hạn hành vi quan sát.

    2.2. Phương pháp phỏng vấn

    Phỏng vấn là một cuộc hỏi đáp giữa một bên là phỏng vấn viên và một bên là người được phỏng vấn thông qua một hình thức tiếp xúc nào đó. Trong thực tiễn các hình thức tiếp xúc trong phỏng vấn khá đa dạng:

    Các hình thức tiếp xúc trong phỏng vấn;

    • Phỏng vấn trực tiếp;
    • Phỏng vấn qua thư tín;
    • Phỏng vấn qua điện thoại;
    • Phỏng vấn qua Email…

    hinh-anh-cac-phuong-phap-thu-thap-du-lieu-2

    Các kỹ thuật trong phỏng vấn

    Hỏi đáp theo cấu trúc: Là việc tiến hành hỏi đáp theo một thứ tự của bảng gồm những câu hỏi đã định trước. Bảng câu hỏi được thiết lập kỹ, phỏng vấn viên không được tuỳ tiện thay đổi thứ tự câu hỏi hay sử dụng những từ ngữ khác.

    Việc phỏng vấn này thích hợp cho các cuộc nghiên cứu với số lượng người được hỏi khá lớn. Mọi người chắc chắn được hỏi những câu hỏi giống nhau. Sau này, việc thống kê phân tích sẽ dễ dàng hơn.

    Hỏi đáp không theo cấu trúc: Phỏng vấn viên được hỏi một cách tự nhiên như một cuộc mạn đàm, hay nói chuyện tâm tình, tùy theo sự hiểu biết của người đáp mà hỏi nhiều hay ít, hoặc đi sâu vào những điều khác lạ mới phát hiện nơi người đáp. Đồng thời đi cả vào những chi tiết mà trong Kế hoạch thông tin không đề cập do không thể tiên liệu hết tình hình cụ thể.

    Hỏi đáp không theo cấu trúc đòi hỏi phỏng vấn viên phải có trình độ cao về kỹ thuật phỏng vấn, nắm vững mục đích của cuộc nghiên cứu, khía cạnh chuyên môn về marketing. trong thực tế, người ta gọi đây là phỏng vấn theo chiều sâu, và được áp dụng trong trường hợp số lượng đối tượng phỏng vấn ít, các chuyên gia, các nhà bán sỉ, lẻ có uy tín và người đáp có trình độ.

    Các hình thức tổ chức phỏng vấn

    Hình thức phỏng vấn cá nhân: Diễn ra chỉ giữa 2 người là phỏng viên và đối tượng phỏng vấn, nêu tiếp xúc với một đám động thì phải tiến hành phỏng vấn với từng người một, và chú ý hạn chế tối đa sự chúng kiến nội dung phỏng vấn nhằm hạn chế sự trả lời thiên lệch của đối tượng phỏng vấn (do bị ảnh hưởng bởi tâm lý dẫn dắt, bầy đàn). Vì vậy, người ta thường cố gắng thực hiện phỏng vấn với không gian riêng, tránh sự góp ý nhòm ngó của những người xung quanh.

    Phỏng vấn nhóm: Là việc tiến hành phỏng vấn cùng lúc với nhiều người, có 2 loại áp dụng trong phỏng vấn nhóm gồm:

    • Nhóm trọng điểm: Là nhóm tiêu biểu đại diện cho một tập hợp đám đông nào đo. Nhà nghiên cứu thường mời từ 8-10 người lập thành một nhóm. Họ sẽ trả lời những câu hỏi chung hoặc riêng do điều phối viên đưa ra, mọi người cùng nghe câu hỏi. Nhóm trọng điểm thường được mời thảo luận trong một “Phòng thí nghiệm” để có thể quan sát, ghi hình, hay ghi âm lại nội dung buổi phỏng vấn.
    • Nhóm cố định: Là nhóm từ 50-200 người được lựa chọn theo một tiêu chuẩn chọn mẫu, được huấn luyện về mục đích nghiên cứu, về phương pháp trả lời (nhiều hình thức). Họ có thể là những thành viên có thoả thuận cộng tác nghiên cứu để làm tốt việc trả lời các câu hỏi do công ty nghiên cứu đưa ra, để theo dõi trong một thời gian dài (6T-12T) để đo lường sự thay đổi thị hiếu của người tiêu dùng.

    Nếu như bạn đang gặp khó khăn trong quá trình hoàn thành bài luận văn về các đề tài kinh tế, hãy liên hệ Dịch vụ viết thuê luận văn của Luận Văn 24 – Chúng tôi sẽ giải quyết vấn đề của bạn nhanh chóng và hiệu quả nhất.

    hinh-anh-cac-phuong-phap-thu-thap-du-lieu-3

    2.3. Phương pháp thử nghiệm

    Phương pháp thu thập dữ liệu này gồm 2 loại:

    Thử nghiệm trong phòng thí nghiệm là để quan sát và đo lường các phản ứng tâm lý hoặc theo dõi các cuộc phỏng vấn, thảo luận của các nhóm trọng điểm. Phòng thí nghiệm thường được chia làm 2 ngăn: Ngăn 1 dành cho những người được phỏng vấn, hay thử nghiệm; Ngăn 2 dành cho những quan sát viên và các trang bị kỹ thuật, ở giữa 2 ngăn được trang bị 1 tấm kính 1 chiều.

    Thử nghiệm tại hiện trường là việc quan sát đo lường thái độ, phản ứng của khách hàng trước những sự thay đổi của nhà cung cấp sản phẩm/dịch vụ như: thay đổi giá bán, thay đổi cách thức phục vụ, chăm sóc khách hàng… Việc quan sát được thực hiện tại nơi diễn ra sự giao dịch, cho nên được gọi là thử nghiệm tại hiện trường.

    2.4. Phương pháp điều tra thăm dò

    Điều tra là việc tìm hiểu thật kỹ ngọn nguồn các sự kiện, chú trọng tới việc thu thập thông tin cùng các nhân chứng, vật chứng. Trong nghiên cứu marketing phương pháp thu thập dữ liệu này được áp dụng khá phổ biến vì những ưu thế của nó nhằm bảo đảm 4 nguyên tắc của một nghiên cứu khoa học.

    Công cụ chủ yếu được dùng để thu thập các thông tin, sự kiện trong phương pháp này là “Bảng câu hỏi – Questions Form” do khách hàng tự trả lời.

    Nó đặc biệt hữu dụng trong nghiên cứu định lượng bởi vì: Đối tượng nghiên cứu chủ yếu của nghiên cứu marketing là các ý kiến, kỳ vọng của khách hàng, nhà cung cấp, người tiêu dùng… cần được đo lường, tính toán, so sánh một cách cụ thể. Vì vậy, cách thức để thu thập dữ liệu bằng “bảng câu hỏi” trong điều tra thăm dò là phù hợp hơn cả.

    Trong thực tế, phương pháp phỏng vấn (theo cấu trúc) cũng sử dụng một hình thức sử dụng “bảng câu hỏi” nhưng nó mang tính chất đối thoại nhiều hơn do đó đối với những vấn đề cần có những ý kiến so sánh, đánh giá, đo lường cụ thể và chi tiết (nghiên cứu định lượng) thì phương pháp điều tra thăm dò tỏ ra có ưu thề hơn về mặt hiệu quả của việc thu thập thông tin.

    2.5. Thảo luận nhóm (focus group)

    Thảo luận nhóm là phương pháp thu thập dữ liệu phổ biến nhất trong nghiên cứu định tính. Các dữ liệu được thu thập thông qua một cuộc thảo luận giữa một nhóm đối tượng nghiên cứu (nhóm tập trung hay nhóm chuyên đề) dưới sự dẫn dắt của người điều khiển chương trình (moderator).

    Thành công của buổi thảo luận phụ thuộc vào khả năng dẫn dắt và khuyến khích các thành viên tham gia vào việc trả lời của người điều khiển chương trình. Thông thường, người điều khiển cũng là nhà nghiên cứu. Yêu cầu cần có của một moderator như sau:

    • Có khả năng quan sát và kỹ năng tiếp xúc
    • Hướng mục tiêu vào dàn bài thảo luận
    • Có khả năng dẫn dắt và là người biết lắng nghe. Xóa bỏ các thành kiến, đồng cảm và khuyến khích các thành viên khác đưa ra ý kiến.

    hinh-anh-cac-phuong-phap-thu-thap-du-lieu-4

    Dữ liệu cần thu thập trong cuộc thảo luận nhóm phải thỏa mãn được mục tiêu nghiên cứu. Điều này phụ thuộc vào tính khoa học và cả nghệ thuật điều khiển của nhà nghiên cứu. Thảo luận nhóm được thực hiện ở ít nhất 3 dạng sau:

    • Nhóm thực thụ (Full group): Gồm từ 8 – 10 thành viên tham gia thảo luận;
    • Nhóm nhỏ (Mini group): Khoảng 4 thành viên tham gia thảo luận;
    • Nhóm điện thoại (Telephone group): Các thành viên tham gia thảo luận trực tuyến qua điện thoại hội nghị hoặc diễn đàn (forum) trên internet.

    Những ứng dụng của thảo luận nhóm:

    • Khám phá thái độ, thói quen tiêu dùng;
    • Phát triển giả thuyết để kiểm nghiệm định lượng tiếp theo;
    • Phát triển dữ liệu cho việc thiết kế bảng câu hỏi cho nghiên cứu định lượng;
    • Thử khái niệm sản phẩm mới;
    • Thử khái niệm thông tin;
    • Thử bao bì, lô gô, tên của thương hiệu…

    Bài viết trên đã chia sẻ đến bạn các phương pháp thu thập dữ liệu phổ biến thường dùng trong nghiên cứu Marketing. Mong rằng kiến thức trên có thể giúp ích cho bạn trong quá trình nghiên cứu. Chúc các bạn thành công.

    Trong quá trình làm bài luận văn tốt nghiệp, nếu bạn gặp phải bất kì khó khăn gì cần giúp đỡ thì đừng ngần ngại liên hệ qua hotline 0988 55 2424 để dịch vụ tư vấn làm luận văn tốt nghiệp của chúng tôi giúp bạn hoàn thành bài luận văn của mình một cách tốt nhất.

    Nguồn: Luanvan24.com

  • Phân tích mô hình 5 áp lực cạnh tranh của Michael Porter

    Phân tích mô hình 5 áp lực cạnh tranh của Michael Porter

    Mô hình 5 áp lực cạnh tranh của Michael Porter là một trong những mô hình kinh điển trong hoạch định chiến lược mà các nhà kinh doanh, kinh tế và marketing đều cần biết. Sau hơn 40 năm ra đời, mô hình này vẫn được ứng dụng rất rộng rãi trong tất cả các lĩnh vực sản xuất kinh doanh, dù là sản phẩm hữu hình hay vô hình.

    Hinh-anh-mo-hinh-5-ap-luc-canh-tranh-1

    Bài viết sau đây, Luận Văn 24 sẽ cung cấp cho bạn toàn bộ các kiến thức có liên quan đến mô hình 5 lực lượng cạnh tranh của Michael Porter để bạn có thể nắm vững và vận dụng vào thực tiễn.

    Mô hình 5 áp lực cạnh tranh của Michael Porter

    Mô hình 5 áp lực cạnh tranh của Michael Porter được công bố lần đầu tiên vào năm 1979 trên tạp chí Harvard Business Review. 

    Trong mô hình này, Michael Porter cho rằng tất cả các ngành nghề kinh doanh đều phải chịu tác động của năm yếu tố gọi là năm lực lượng cạnh tranh: nhà cung cấp, đối thủ trong ngành, đối thủ cạnh tranh tiềm năng, sản phẩm thay thế và khách hàng. 

    Ông đã mô hình hóa các yếu tố này để dễ dàng phân tích và đánh giá. Mô hình này cung cấp cho các doanh nghiệp một khung lý thuyết để xây dựng chiến lược cạnh tranh giúp doanh nghiệp tìm hiểu nguồn gốc lợi nhuận và duy trì hay gia tăng lợi nhuận.

    Khi một doanh nghiệp nào đó có ý định mở rộng hay xâm nhập một thị trường mới, các nhà nghiên cứu, nhà hoạch định của doanh nghiệp đó sẽ sử dụng mô hình này để phân tích thị trường xem có tiềm năng phát triển sản phẩm của doanh nghiệp hay không, để từ đó đưa ra quyết định cuối cùng. 

    Tuy nhiên, ngày nay, do tính cạnh tranh trên thị trường ngày càng gay gắt, nên mô hình này còn được sử dụng để nghiên cứu, phát triển sản phẩm hoặc cải thiện chất lượng sản phẩm/ dịch vụ cũ, nhằm mục tiêu tối đa hóa lợi nhuận cho doanh nghiệp.

    Đối với các doanh nghiệp trực thuộc nhà nước, không kinh doanh thương mại như các cơ quan về an toàn vệ sinh thực phẩm, chống độc, viện dịch tễ trung ương, trung tâm y tế,.. thì mô hình này lại được ứng dụng với mục đích khác, đó là xem xét các doanh nghiệp có lợi dụng, lừa dối công chúng hay không. 

    Hinh-anh-mo-hinh-5-ap-luc-canh-tranh-2

    Phân tích mô hình 5 áp lực cạnh tranh của Michael Porter

    Để hiểu rõ hơn về năm lực lượng cạnh tranh của mô hình này, chúng ta sẽ cùng nhau phân tích cụ thể từng lực lượng ngay sau đây. 

    Sức mạnh của nhà cung cấp

    Sức mạnh của nhà cung cấp là yếu tố đầu tiên được nhắc đến trong mô hình 5 áp lực cạnh tranh của Michael Porter. Sản phẩm được tạo nên từ các nguyên vật liệu đầu vào, nên nhà cung cấp có tác động rất lớn tới giá bán sản phẩm và ảnh hưởng đến lợi nhuận, thu nhập của doanh nghiệp.

    Chỉ cần mỗi nhà cung cấp tăng một chút giá cũng có thể làm cho giá vốn sản xuất của sản phẩm tăng lên đáng kể. Trong khi đó, doanh nghiệp không thể tăng giảm giá bán của sản phẩm một cách tùy tiện theo giá của nhà cung cấp và dĩ nhiên, lúc này doanh nghiệp chỉ còn cách chịu giảm lợi nhuận.

    Tuy nhiên, việc tăng giá vẫn còn có thể giải quyết dễ dàng hơn là các nguyên vật liệu đầu vào bị giảm chất lượng, kéo theo chất lượng của sản phẩm cũng bị giảm theo. Điều này dẫn đến nguy cơ doanh nghiệp bị mất khách hàng.

    Trong trường hợp này, doanh nghiệp sẽ có hai cách xử lý đó là phản ánh, thương lượng lại với nhà cung cấp về chất lượng sản phẩm hoặc là tìm kiếm một nhà cung cấp mới để thay thế. Cả hai cách này đều không phải dễ dàng và mang lại nhiều rủi ro.

    Đặc biệt, nếu doanh nghiệp có ít nhà cung cấp, quyền lực của các nhà cung cấp sẽ càng lớn và việc giải quyết vấn đề sẽ càng khó khăn hơn cho doanh nghiệp.

    Ví dụ: Các shop kinh doanh online nhập quần áo từ Quảng Châu, trong đợt dịch Covid-19 vừa qua đã gặp phải tình huống vô cùng éo le, “tiền mất tật mang” khi mà họ không thể nhận được hàng do lệnh cấm vận và cách ly xã hội của Chính phủ. Đây có thể xem là trường hợp hy hữu nhất khi mà nhà cung cấp của họ quá ít và tập trung chủ yếu ở một vùng.

    Hinh-anh-mo-hinh-5-ap-luc-canh-tranh-3

    Sức mạnh của nhà cung cấp được thể hiện cụ thể thông qua các yếu tố sau:

    • Số lượng của các nhà cung cấp
    • Mức độ tập trung của các nhà cung cấp
    • Mức độ khác biệt của nhà cung cấp
    • Chi phí chuyển đổi doanh nghiệp
    • Tác động của các yếu tố đầu vào tới sự khác biệt hóa hoặc chi phí sản xuất sản phẩm
    • Số lượng các nhà cung cấp thay thế
    • Chi phí cung ứng so với tổng lợi tức của ngành
    • Sự liên kết của các nhà cung cấp

    Nếu bạn đang gặp khó khăn trong việc phân tích mô hình 5 áp lực cạnh tranh trong bài luận của mình, hãy tham khảo khảo Dịch vụ viết tiểu luận thuê của Luận Văn 24 – Đội ngũ chuyên gia dày dặn kinh nghiệm thuộc mọi lĩnh vực của chúng tôi sẽ giúp đỡ và hỗ trợ bạn.

    Nguy cơ từ các sản phẩm thay thế

    Sản phẩm thay thế là những sản phẩm khác so với sản phẩm của doanh nghiệp nhưng lại có khả năng thay thế trong tiêu dùng. Đặc điểm nổi trội của sản phẩm hiện tại được thay thế bởi những điểm riêng biệt khác đến từ các sản phẩm thay thế làm cho khách hàng cảm thấy có hứng thú và đáp ứng được một nhu cầu tiềm ẩn nào đó từ họ.

    Ví dụ: Sản phẩm thay thế của bếp gas có thể là bếp điện, bếp từ, … Đối với những gia đình khá giả hơn một chút họ có xu hướng sử dụng bếp điện bởi nó không khói, khả năng gây ra cháy nổ cũng ít hơn rất nhiều so với bếp gas.

    Sự đe dọa từ sản phẩm thay thế trong mô hình 5 áp lực cạnh tranh được thể hiện ở các yếu tố:

    • Các chi phí chuyển đổi trong sử dụng sản phẩm
    • Xu hướng sử dụng hàng thay thế của khách hàng
    • Tương quan giữa giá cả và chất lượng của các mặt hàng thay thế

    Hinh-anh-mo-hinh-5-ap-luc-canh-tranh-4

    Áp lực từ đối thủ cạnh tranh trong ngành

    Không một ngành nghề hay lĩnh vực kinh doanh nào không có đối thủ cạnh tranh. Sự cạnh tranh giữa các doanh nghiệp được thể hiện qua giá, thị phần, số lượng sản phẩm,..

    Ở một thị trường nhỏ hoặc một ngành bị chi phối bởi các doanh nghiệp lớn, sự cạnh tranh có thể bị biến tướng sang thế độc quyền, khi mà quyền lực nằm hết vào tay một doanh nghiệp duy nhất, rất khó để có một doanh nghiệp nào có thể chen chân vào hay uy hiếp đến doanh nghiệp lớn này.

    Ví dụ: Lĩnh vực điện lực, Việt Nam chúng ta chỉ cho phép một doanh nghiệp duy nhất là công ty điện lực nhà nước được phép kinh doanh và trong ngành này thế độc quyền thuộc về doanh nghiệp nhà nước.

    Áp lực này chủ yếu nhằm phân tích thông tin thị trường với các nội dung như cơ cấu cạnh tranh ngành, thực trạng cơ cấu của ngành, hàng rào, số lượng doanh nghiệp cùng ngành, và các sản phẩm đang cung cấp.

    Áp lực từ đối thủ cạnh tranh được thể hiện ở:

    • Mức độ tập trung của ngành
    • Các rào cản nếu muốn “thoát ra” khỏi ngành
    • Chi phí cố định/ giá trị gia tăng
    • Tình trạng tăng trưởng của ngành
    • Khác biệt giữa các sản phẩm
    • Các chi phí chuyển đổi
    • Sự đa dạng của các đối thủ cạnh tranh

    Áp lực từ đối thủ cạnh tranh tiềm năng

    Trong mô hình 5 áp lực cạnh tranh, đối thủ cạnh tranh tiềm năng là những doanh nghiệp chưa tham gia vào ngành nhưng họ có thể là mối đe dọa lớn cho các doanh nghiệp trong ngành nếu như họ quyết định lấn sân sang lĩnh vực mới.

    Ví dụ: Nếu như Vingroup quyết định kinh doanh mạng di động viễn thông, thì tập đoàn này có thể trở thành đối thủ cạnh tranh lớn đối với các doanh nghiệp trong ngành này mà hiện này nó đang được thống trị bởi ba thương hiệu phổ biến là Viettel, Vina hay Mobiphone.


    Hinh-anh-mo-hinh-5-ap-luc-canh-tranh-5

    Tuy nhiên, một doanh nghiệp có thể gia nhập một ngành mới cần xem xét đến các yếu tố sau:

    • Lợi thế về chi phí
    • Yếu tố đầu vào
    • Chính sách của chính phủ
    • Các yêu cầu về vốn
    • Các chi phí chuyển đổi ngành kinh doanh
    • Kênh phân phối
    • Tính cạnh tranh trong ngành
    • Các sản phẩm độc quyền

    Sức mạnh khách hàng

    Dĩ nhiên rồi, bất kỳ ngành nghề kinh doanh nào đều cần có khách hàng và họ là những người có quyền lực vô hạn quyết định đến vận mệnh của doanh nghiệp.

    Khách hàng ở đây có thể là nhà cung cấp, doanh nghiệp hoặc là khách hàng cuối cùng bởi trong một chuỗi cung ứng nhà cung cấp của doanh nghiệp này sẽ là khách hàng của một mắt xích khác trong cùng hoặc khác chuỗi cung ứng.

    Sức mạnh của khách hàng được thể hiện ở:

    • Vị thế mặc cả
    • Số lượng khách hàng
    • Thông tin cung cấp đến khách hàng
    • Nhãn hiệu hàng hóa
    • Giá bán
    • Khác biệt hóa của sản phẩm
    • Số lượng thương hiệu sản phẩm
    • Hàng hóa thay thế
    • Nhu cầu của khách hàng

    Trên đây là các kiến thức tổng hợp về mô hình 5 áp lực cạnh tranh của Michael Porter mà chúng tôi mang đến cho bạn. Hãy áp dụng chúng một cách thông minh!

    Nếu bạn có nhu cầu thuê viết tiểu luận hay muốn được giải đáp thêm về mô hình 5 áp lực cạnh tranh, hãy liên hệ với chúng tôi qua số điện thoại 0988 55 2424 hoặc qua email luanvan24@gmail.com để được tư vấn và hỗ trợ.

    Nguồn: Luanvan24.com

  • Dịch vụ công trực tuyến là gì? Tổng quan về dịch vụ công

    Bạn băn khoăn không biết dịch vụ công trực tuyến là gì? Trong bài viết này, Luận Văn 24 sẽ trình bày những khái niệm liên quan đến dịch vụ công trực tuyến, phân loại dịch vụ công một cách chi tiết nhất. Cùng tìm hiểu ngay nhé!

    hinh-anh-dich-vu-cong-truc-tuyen-la-gi-1

    1. Khái niệm dịch vụ công là gì?

    Tùy theo cách tiếp cận khác nhau, mà người ta có thể đưa ra rất nhiều định nghĩa khác nhau về dịch vụ công. Chẳng hạn như: 

    Theo từ điển Petit Larousse: “Dịch vụ công là hoạt động vì lợi ích chung, do một cơ quan Nhà nước hoặc tư nhân đảm nhận” 

    Theo Wikipedia: “Dịch vụ công là một dịch vụ nhằm phục vụ tất cả các thành viên của cộng đồng. Nó thường được chính phủ cung cấp cho những người sống trong phạm vi quyền hạn, trực tiếp hoặc bằng cách cung cấp tài chính cho các dịch vụ.”

    “Dịch vụ công là những dịch vụ đáp ứng các nhu cầu cơ bản, thiết yếu chung của người dân và cộng đồng, đảm bảo ổn định và công bằng xã hội do Nhà nước chịu trách nhiệm, hoạt động không vì mục tiêu lợi nhuận” (Chu Văn Thành, 2007, trang 49).  

    Mặc dù có những định nghĩa khác nhau về dịch vụ công, nhưng từ các định nghĩa này, ta thấy dịch vụ công có những đặc trưng cơ bản là: 

    • Do Nhà nước chịu trách nhiệm trước xã hội về việc trực tiếp cung ứng hoặc ủy nhiệm việc cung ứng. Ngay cả khi chuyển giao dịch vụ này cho tư nhân cung ứng thì Nhà nước vẫn có vai trò điều tiết đặc biệt nhằm đảm bảo sự công bằng trong phân phối các dịch vụ này, khắc phục các khiếm khuyết của thị trường;
    • Phục vụ trực tiếp cho nhu cầu, lợi ích cơ bản, thiết yếu của người dân
    • Mục tiêu nhằm bảo đảm tính công bằng và hiệu quả trong cung ứng dịch vụ. Không vì mục tiêu lợi nhuận.
    • Không phân biệt đối tượng được cung ứng, thụ hưởng. Mọi người dân có quyền bình đẳng trong việc tiếp nhận và sử dụng các dịch vụ công.

    2. Khái niệm dịch vụ công trực tuyến là gì?

    Dịch vụ công trực tuyến là gì?

    Theo định nghĩa tại Nghị định 43/2011/ NĐ- CP của Chính phủ, ngày 13/6/2011 Quy định về việc cung cấp thông tin và dịch vụ công trực tuyến trên trang thông tin điện tử hoặc cổng thông tin điện tử của cơ quan nhà nước thì “Dịch vụ công trực tuyến là dịch vụ hành chính công và các dịch vụ khác của cơ quan nhà nước được cung cấp cho các tổ chức, cá nhân trên môi trường mạng”.

    Như vậy dịch vụ công trực tuyến trước hết đó phải là các dịch vụ hành chính công và các dịch vụ này được cung cấp cho người dân, doanh nghiệp trên môi trường mạng máy tính, thường là mạng internet.

    hinh-anh-dich-vu-cong-truc-tuyen-la-gi-2

    Đặc điểm của dịch vụ công trực tuyến là gì?

    Dịch vụ công trực tuyến là dịch vụ hành chính công được thực hiện trên môi trường mạng máy tính. Vì vậy nó có đầy đủ các đặc điểm của dịch vụ hành chính công, như: Luôn gắn với công việc quản lý Nhà nước; Do các cơ quan hành chính nhà nước đảm nhiệm; Cung cấp các “hàng hóa” dịch vụ hành chính, tư pháp; Hoạt động không vụ lợi, chỉ thu phí và lệ phí nộp ngân sách nhà nước; Mọi công dân và tổ chức đều có quyền bình đẳng trong việc tiếp nhận và sử dụng các dịch vụ. 

    Tuy nhiên do được thực hiện trên môi trường mạng, nên ngoài các đặc điểm nêu trên, dịch vụ công trực tuyến cũng có một số đặc điểm khác biệt so với các dịch vụ công thông thường: 

    • Ít hạn chế về mặt không gian: Khác với dịch vụ công truyền thống, chỉ có thể thực hiện được tại trụ sở của các cơ quan Nhà nước (là đơn vị cung cấp dịch vụ công). òn đối với dịch vụ công trực tuyến, mọi công dân và tổ chức có thể thực hiện các thủ tục hành chính công ở bất kỳ nơi đâu, miễn là nơi đó có máy tính kết nối mạng Internet. 
    • Không hạn chế về thời gian: Về lý thuyết, dịch vụ công trực tuyến có thể cung cấp ở mọi thời điểm (24/24h và 7/7 ngày), không phụ thuộc vào ngày nghỉ, lễ và giờ hành chính của các cơ quan nhà nước.
    • Các đơn vị cung cấp dịch vụ công trực tuyến phải đảm bảo được một số điều kiện: tận lực xử lý dịch vụ công trực tuyến; nhân lực quản trị kỹ thuật; Phải đầu tư và thực hiện bảo trì, bảo dưỡng, duy trì hoạt động, nâng cấp, chỉnh sửa cổng thông tin điện tử, các phần mềm chuyên dụng; Bảo đảm đường truyền, máy móc, trang thiết bị phục vụ việc thu thập, xử lý thông tin; Bảo đảm an toàn thông tin và dữ liệu trên môi trường mạng vv… 
    • Yêu cầu người sử dụng dịch vụ phải có những điều kiện nhất định: Đối với dịch vụ công trực tuyến, người được phục vụ phải có những điều kiện nhất định, như phải có máy vi tính có kết nối mạng Internet, phải có hiểu biết và sử dụng tốt về máy tính, về mạng Internet, biết sử dụng các phần mềm chuyên dụng hoặc trên website của cơ quan nhà nước vv…

    Các mức dịch vụ công trực tuyến

    Dịch vụ công trực tuyến mức độ 1: là dịch vụ bảo đảm cung cấp đầy đủ các thông tin về thủ tục hành chính và các văn bản có liên quan quy định về thủ tục hành chính đó. 

    Dịch vụ công trực tuyến mức độ 2: là dịch vụ công trực tuyến mức độ 1 và cho phép người sử dụng tải về các mẫu văn bản và khai báo để hoàn thiện hồ sơ theo yêu cầu. Hồ sơ sau khi hoàn thiện được gửi trực tiếp hoặc qua đường bưu điện đến cơ quan, tổ chức cung cấp dịch vụ. 

    Dịch vụ công trực tuyến mức độ 3: là dịch vụ công trực tuyến mức độ 2 và cho phép người sử dụng điền và gửi trực tuyến các mẫu văn bản đến cơ quan, tổ chức cung cấp dịch vụ. Các giao dịch trong quá trình xử lý hồ sơ và cung cấp dịch vụ được thực hiện trên môi trường mạng. Việc thanh toán lệ phí (nếu có) và nhận kết quả được thực hiện trực tiếp tại cơ quan, tổ chức cung cấp dịch vụ. 

    Dịch vụ công trực tuyến mức độ 4: là dịch vụ công trực tuyến mức độ 3 và cho phép người sử dụng thanh toán lệ phí (nếu có) được thực hiện trực tuyến. Việc trả kết quả có thể được thực hiện trực tuyến, gửi trực tiếp hoặc qua đường bưu điện đến người sử dụng.

    hinh-anh-dich-vu-cong-truc-tuyen-la-gi-3

    Hiện tại, Luận Văn 24 đang cung cấp Dịch vụ viết thuê luận văn thạc sĩ, cao học đa dạng các chuyên ngành/ngành khác nhau. Nếu bạn đang gặp những khó khăn trong việc viết luận văn, hãy để chúng tôi đồng hành và chia sẻ cùng bạn. Với kinh nghiệm hơn 12 năm hoạt động trong lĩnh vực này, chúng tôi cam kết sẽ mang đến cho bạn dịch vụ chất lượng, uy tín hàng đầu Việt Nam.

    3. Phân loại dịch vụ công

    3.1. Dịch vụ hành chính công

    Dịch vụ hành chính công là gì?

    Dịch vụ hành chính công là loại hình dịch vụ công do cơ quan hành chính nhà nước cung cấp phục vụ yêu cầu cụ thể của công dân và tổ chức dựa trên quy định của pháp luật. Các công việc do cơ quan hành chính nhà nước thực hiện nằm trong phạm trù dịch vụ công, thể hiện mối quan hệ giữa nhà nước và công dân, trong mối quan hệ này công dân thực hiện dịch vụ này không có quyền lựa chọn mà phải nhận những dịch vụ bắt buộc do nhà nước quy định. Sản phẩm của dịch vụ dưới dạng phổ biến là các loại văn bản mà tổ chức, cá nhân có nhu cầu được đáp ứng. (Lê hi Mai, 2006: trang 31). 

    Dịch vụ hành chính công do các cơ quan hành chính nhà nước thực hiện thông qua 2 chức năng cơ bản: hức năng quản lý nhà nước đối với mọi lĩnh vực của đời sống kinh tế – xã hội và chức năng cung ứng dịch vụ công cho tổ chức và công dân.

    Nói cách khác, “Dịch vụ hành chính công là những hoạt động phục vụ các quyền và nghĩa vụ cơ bản của các tổ chức và công dân, do các cơ quan hành chính nhà nước thực hiện dựa vào thẩm quyền hành chính pháp lý nhà nước” (Lê hi Mai, 2006: trang 452). 

    Đặc điểm dịch vụ hành chính công

    • Thứ nhất, dịch vụ hành chính là hoạt động quản lý mang tính phục vụ, đặt quyền lợi người dân lên trên hết; nhà nước phải vì dân mà phục vụ và quản lý
    • Thứ hai, các dịch vụ hành chính công luôn gắn với việc thực hiện thẩm quyền hành chính pháp lý của các cơ quan thực hiện, dù có thể thay đổi về hình thức chủ thể thực hiện.
    • Thứ ba, cung cấp các “hàng hóa” dịch vụ hành chính, tư pháp. Cụ thể cung cấp các loại giấy tờ này là những chứng chỉ ghi nhận về thân nhân, về quyền sở hữu như chứng minh thư, hộ khẩu, các giấy tờ chứng nhận quyền sở hữu đất đai, tài sản, các giấy tờ đăng ký kinh doanh, các loại giấy phép vv….
    • Thứ tư, dịch vụ hành chính công là những hoạt động không vụ lợi, chỉ thu phí và lệ phí nộp ngân sách nhà nước (theo quy định chặt chẽ của cơ quan nhà nước có thẩm quyền). ơi làm dịch vụ không trực tiếp hưởng lợi từ nguồn thu này.
    • Thứ năm, mọi công dân và tổ chức đều có quyền bình đẳng trong việc tiếp nhận và sử dụng các dịch vụ hành chính công với tư cách là đối tượng phục vụ của chính quyền. Nhà nước có trách nhiệm và nghĩa vụ phục vụ công dân trên nguyên tắc công bằng, bảo đảm sự ổn định, bình đẳng và hiệu quả của hoạt động quản lý xã hội.

    hinh-anh-dich-vu-cong-truc-tuyen-la-gi-4

    3.2. Dịch vụ sự nghiệp công

    Là loại dịch vụ cung cấp các hàng hóa dịch vụ về giáo dục- đào tạo, chăm sóc sức khỏe, văn hóa tinh thần do các tổ chức sự nghiệp cung ứng không thu tiền hoặc có thu tiền một phần nhưng không vì mục tiêu lợi nhuận. 

    Dịch vụ sự nghiệp công có những tính chất đặc thù sau: 

    • Thứ nhất, đáp ứng những nhu cầu cơ bản về phát triển cá nhân của con người.
    • Thứ hai, do các tổ chức chuyên ngành, có chuyên môn sâu cung cấp.
    • Thứ ba, cung cấp chủ yếu các hàng hóa phi vật chất.

    Phạm vi của dịch vụ sự nghiệp công do nhà nước cung cấp, tập trung vào các lĩnh vực giáo dục và đào tạo, y tế, khoa học và công nghệ, văn hóa, thể dục, thể thao, lao động, việc làm, an sinh xã hội vv…

    3.3. Dịch vụ công ích 

    Dịch vụ công ích là hoạt động cung ứng các hàng hóa, dịch vụ có tính chất kinh tế đáp ứng nhu cầu vật chất thiết yếu cho sinh hoạt của người dân, nó gắn liền với việc cung ứng của các cơ sở hạ tầng kỹ thuật cơ bản.

    Dịch vụ công ích có những tính chất chủ yếu sau: 

    • Thứ nhất, đáp ứng nhu cầu tối thiểu gắn với đời sống vật chất hàng ngày của người dân. Thường xuất hiện và được thực hiện ở các đô thị, các vùng khó khăn và các đối tượng dễ bị tổn thương.
    • Thứ hai, là loại hình dịch vụ công chịu ảnh hưởng ít hơn về vai trò điều tiết của nhà nước (so với hai loại dịch vụ công nêu trên), đồng thời là loại hình dịch vụ công có khả năng thu hút sự tham gia của nhiều thành phần kinh tế nhất.
    • Thứ ba, các hàng hóa cung cấp là các hàng hóa vật chất thường do doanh nghiệp thực hiện, nguồn tài chính được huy động từ đóng góp trực tiếp của người dân, nhưng chất lượng, giá cả chịu sự điều tiết của nhà nước.

    Các loại dịch vụ công ích thường được các hính phủ quan tâm thực hiện gồm: Vệ sinh môi trường, cấp nước sạch, vận tải công cộng đô thị, cấp điện chiếu sáng công cộng, bưu chính, chăm sóc công viên, cây xanh, dịch vụ nghĩa trang vv…

    Bài viết trên Luận Văn 24 đã tổng hợp giúp bạn các kiến thức xoay quanh vấn đề về dịch vụ công trực tuyến là gì? Nếu còn bất kỳ thắc mắc gì vui lòng liên hệ hotline 0988 55 2424 để được tư vấn và hỗ trợ trực tiếp.

    Nguồn: Luanvan24.com

  • Đặc điểm và các phương pháp quản lý tài chính công hiệu quả

    Đặc điểm và các phương pháp quản lý tài chính công hiệu quả

    Tài chính công là tổng thể cac hoạt động thu chi băng tiền do Nhà nước tiến hành nhằm phục vụ việc thực hiện các chức năng của nhà nước và đáp ứng các nhu cầu, lợi ích chung của toàn xã hội. Vậy Quản lý tài chính công là gì và có những đặc điểm cụ thể như thế nào? Cùng Luận Văn 24 trả lời những câu hỏi này nhé.

    hinh-anh-quan-ly-tai-chinh-cong-1

    1. Khái niệm quản lý tài chính công

    Quản lý nói chung được quan niệm như một quy trình công nghệ mà chủ thể quản lý tiến hành thông qua việc sử dụng các công cụ và phương pháp thích hợp nhằm tác động và điều khiển đối tượng quản lý hoạt động phát triển phù hợp với quy luật khách quan và đạt tới các mục tiêu đã định.

    Trong hoạt động quản lý các vấn đề về: chủ thể quản lý, đối tượng quản lý, công cụ và phương pháp quản lý, mục tiêu quản lý là những yếu tố trung tâm đòi hỏi phải được xác định đúng đắn.

    Quản lý tài chính công (TCC) là một nội dung của quản lý tài chính và là một mặt của quản lý xã hội nói chung, do đó trong quản lý TCC các vấn đề kể trên cũng là các vấn đề cần được nhận thức đầy đủ.

    Trong hoạt động TCC, chủ thể quản lý TCC là Nhà nước hoặc các cơ quan Nhà nước được Nhà nước giao nhiệm vụ thực hiện các hoạt động tạo lập và sử dụng các quỹ tiền tệ của Nhà nước. Chủ thể trực tiếp quản lý TCC là bộ máy tài chính trong hệ thống các cơ quan Nhà nước.

    Đối tượng của quản lý TCC là các hoạt động của TCC. Nói cụ thể hơn đó là các hoạt động thu, chi bằng tiền của TCC; hoạt động tạo lập và sử dụng các quỹ TCC diễn ra trong các bộ phận cấu thành của TCC. Đó cũng chính là các nội dung chủ yếu của quản lý TCC.

    Hoạt động tài chính không chỉ chịu sự chi phối bởi bản thân hoạt động của con người chịu trách nhiệm tổ chức các hoạt động tài chính, mà còn chịu sự chi phối bởi môi trường kinh tế – xã hội khách quan mà tài chính đang tồn tại và vận động.

    Do đó, trong quản lý tài chính nói chung và quản lý TCC nói riêng, để đạt tới các mục tiêu đã định, một mặt phải tác động vào môi trường kinh tế – xã hội khách quan mà tài chính đang tồn tại và vận động, mặt khác phải tác động vào các hoạt động của con người đang chịu trách nhiệm tổ chức các hoạt động tài chính để điều khiển các hoạt động tài chính phù hợp với các yêu cầu khách quan của sự phát triển kinh tế – xã hội và ý muốn chủ quan của người quản lý nói chung và của Nhà nước nói riêng.

    2. Các phương pháp quản lý tài chính công

    Trong quản lý tài chính công, các chủ thể quản lý có thể sử dụng nhiều phương pháp quản lý và nhiều công cụ quản lý khác nhau.

    • Phương pháp tổ chức được sử dụng để thực hiện ý đồ của chủ thể quản lý trong việc bố trí, sắp xếp các mặt hoạt động của TCC theo những khuôn mẫu đã định và thiết lập bộ máy quản lý phù hợp với các mặt hoạt động đó của TCC.
    • Phương pháp hành chính được sử dụng khi các chủ thể quản lý TCC muốn các đòi hỏi của mình phải được các khách thể quản lý tuân thủ một cách vô điều kiện. Đó là khi các chủ thể quản lý ra các mệnh lệnh hành chính
    • Phương pháp kinh tế được sử dụng thông qua việc dùng lợi ích vật chất để kích thích tính tích cực của các khách thể quản lý, tức là tác động tới các tổ chức và cá nhân đang tổ chức các hoạt động TCC.

    Hệ thống pháp luật thuộc lĩnh vực TCC được sử dụng để quản lý và điều hành các hoạt động. TCC được xem như một loại công cụ quản lý có vai trò đặc biệt quan trọng.

    hinh-anh-quan-ly-tai-chinh-cong-2

    Trong quản lý tài chính công, công cụ pháp luật được sử dụng thể hiện dưới các dạng cụ thể là các chính sách, cơ chế quản lý tài chính; các chế độ quản lý tài chính, kế toán, thống kê; các định mức, tiêu chuẩn về tài chính, mục lục NSNN…

    Cùng với pháp luật, hàng loạt công cụ phổ biến khác được sử dụng trong quản lý TCC như: các đòn bẩy kinh tế, tài chính; kiểm tra, thanh tra, giám sát; các tiêu chí đánh giá hiệu quả quản lý TCC…

    Mỗi công cụ kể trên có đặc điểm khác nhau và được sử dụng theo các cách khác nhau nhưng đều nhằm cùng một hướng là thúc đẩy nâng cao hiệu quả hoạt động TCC nhằm đạt tới mục tiêu đã định.

    Từ những phân tích kể trên có thể có khái niệm tổng quát về quản lý TCC như sau:

    Quản lý TCC là hoạt động của các chủ thể quản lý TCC thông qua việc sử dụng có chủ định các phương pháp quản lý và các công cụ quản lý để tác động và điều khiển hoạt động của TCC nhằm đạt được các mục tiêu đã định.

    Luận Văn 24 hiện đang cung cấp Dịch vụ viết thuê luận văn các ngành kinh tế, tài chính đảm bảo uy tín số 1 Việt Nam. Nếu trong quá trình làm luận văn bạn gặp bất kỳ khó khăn gì, hãy để chúng tôi đồng hành và giúp đỡ bạn hoàn thành tốt bài luận của mình.

    3. Đặc điểm của quản lý tài chính công

    Quản lý TCC là sự tác động của các chủ thể quản lý TCC vào quá trình hoạt động của TCC. Để quản lý TCC có hiệu quả đòi hỏi phải nắm được đặc điểm của quản lý TCC. Đến lượt nó, đặc điểm của quản lý TCC lại chịu sự chi phối bởi đặc điểm của hoạt động TCC – đối tượng quản lý và mô hình tổ chức hệ thống bộ máy quản lý TCC – chủ thể quản lý. Từ đó có thể khái quát các đặc điểm cơ bản của quản lý TCC như sau:

    3.1. Đặc điểm về đối tượng quản lý T

    Đối tượng của quản lý tài chính công là các hoạt động của TCC. Tuy nhiên, các hoạt động của TCC lại luôn gắn liền với các cơ quan Nhà nước – các chủ thể của TCC. Các cơ quan này vừa là người thụ hưởng nguồn kinh phí của TCC, vừa là người tổ chức các hoạt động của TCC. Do đó, các cơ quan này cũng trở thành đối tượng của quản lý TCC.

    Lấy chất lượng, hiệu quả đã đạt được của các hoạt động TCC làm cơ sở để phân tích đánh giá động cơ, biện pháp tổ chức, điều hành hoạt động TCC của các cơ quan Nhà nước là đòi hỏi và là nguyên tắc của quản lý TCC. Chỉ có như vậy mới đảm bảo cho các nguồn lực tài chính của Nhà nước được sử dụng hợp lý và có hiệu quả, tránh được tình trạng thất thoát, lãng phí, tham nhũng công quỹ.

    Quản lý TCC thực chất là quản lý các quỹ công, quản lý các hoạt động tạo lập (thu) và sử dụng (chi) các quỹ công, do đó sự kết hợp chặt chẽ giữa quản lý yếu tố con người với quản lý yếu tố hoạt động tài chính là đặc điểm quan trọng của quản lý TCC.

    hinh-anh-quan-ly-tai-chinh-cong-3

    3.2. Đặc điểm về việc sử dụng các phương pháp quản lý TCC

    Như đã đề cập ở trên, trong quản lý tài chính công có thể sử dụng nhiều phương pháp quản lý khác nhau (tổ chức, hành chính, kinh tế) và nhiều công cụ quản lý khác nhau (pháp luật, các đòn bẩy kinh tế, thanh tra – kiểm tra, đánh giá…). Mỗi phương pháp, công cụ có đặc điểm riêng, có cách thức tác động riêng và có các ưu, nhược điểm riêng. Nếu như phương pháp tổ chức, hành chính có ưu điểm là đảm bảo được tính tập trung, thống nhất dựa trên nguyên tắc chỉ huy, quyền lực thì lại có nhược điểm là hạn chế tính kích thích, tính chủ động của các cơ quan tổ chức hoạt động TCC.

    Ngược lại, các phương pháp kinh tế, các đòn bẩy kinh tế có ưu điểm là phát huy được tính chủ động, sáng tạo nhưng lại có nhược điểm là hạn chế tính tập trung, thống nhất trong việc tổ chức các hoạt động TCC theo cùng một hướng đích.

    Do đó, trong quản lý TCC, tuỳ theo đặc điểm của đối tượng quản lý cụ thể mà có thể lựa chọn phương pháp này hay phương pháp khác làm phương pháp nổi bật trên nguyên tắc chung là phải sử dụng đồng bộ và kết hợp chặt chẽ các phương pháp và công cụ quản lý.

    Tuy nhiên, do đặc điểm của hoạt động TCC là luôn gắn liền với quyền lực của Nhà nước, nên trong quản lý TCC phải đặc biệt chú trọng tới các phương pháp, công cụ mang tính quyền uy, mệnh lệnh để đảm bảo tính tập trung, thống nhất. Đó là các phương pháp tổ chức, hành chính, các công cụ pháp luật, thanh tra, kiểm tra. Đây cũng là một đặc điểm quan trọng của quản lý TCC.

    3.3. Đặc điểm về quản lý nội dung vật chất của TCC

    Nội dung vật chất của TCC là các nguồn tài chính, các quỹ tiền tệ thuộc sở hữu Nhà nước mà Nhà nước có thể chi phối và sử dụng trong một thời kỳ nhất định. Các nguồn tài chính đó có thể tồn tại dưới dạng tiền tệ hoặc tài sản, nhng tổng số nguồn lực tài chính đó là biểu hiện về mặt giá trị, là đại diện cho một lượng của cải vật chất của xã hội.

    Về lý thuyết cũng như thực tiễn, sự vận động của các nguồn tài chính phải ăn khớp với sự vận động của của cải vật chất mới đảm bảo cho sự phát triển cân đối của nền kinh tế. Điều đó càng có ý nghĩa và cần thiết bởi vì tổng nguồn lực tài chính mà Nhà nước nắm giữ chiếm tỷ trọng lớn trong tổng nguồn lực tài chính của toàn xã hội.

    hinh-anh-quan-ly-tai-chinh-cong-4

    Do đó, trong quản lý tài chính công, không những phải quản lý nguồn tài chính đang tồn tại cả dưới hình thức tiền tệ, cả dưới hình thức tài sản, mà còn phải quản lý sự vận động của tổng nguồn lực TCC – sự vận động về mặt giá trị – trên cơ sở tính toán để đảm bảo cân đối với sự vận động của các luồng của cải vật chất và lao động – sự vận động về mặt giá trị sử dụng – trong đời sống thực tiễn.

    Như vậy, kết hợp quản lý, đảm bảo tính thống nhất giữa hiện vật và giá trị, giá trị và giá trị sử dụng là một đặc điểm quan trọng khác của quản lý TCC.

    Bài viết trên đây đã tổng hợp và chia sẻ đến bạn kiến thức về khác niệm và đặc điểm của quản lý tài chính công. Nếu còn bất kỳ thắc mắc gì vui lòng liên hệ hotline 0988 55 2424 để được tư vấn và hỗ trợ trực tiếp.

  • Vấn đề chung về quản lý nhà nước về giáo dục và đào tạo

    Vấn đề chung về quản lý nhà nước về giáo dục và đào tạo

    Trong bài viết này, Luận Văn 24 sẽ hệ thống hóa những vấn đề chung liên quan đến quản lý nhà nước về giáo dục và đào tạo. Nếu bạn đang cảm thấy quá lo lắng khi làm đề tài luận văn về đề tài này, bài viết dưới đây chính là giải pháp tốt nhất giúp bạn giải đáp những thắc mắc đang gặp phải.

    hinh-anh-quan-ly-nha-nuoc-ve-giao-duc-va-dao-tao-6

    1. Một số khái niệm liên quan quản lý nhà nước về giáo dục

    1.1. Quản lý nhà nước là gì?

    Quản lý nhà nước là sự chỉ huy, điều hành xã hội để thực hiện quyền lực nhà nước, là tổng thể và thể chế về tổ chức và cán bộ của bộ máy nhà nước có trách nhiệm quản lý công việc hàng ngày của nhà nước ,do các cơ quan nhà nước (lập pháp ,hiến pháp ,tư pháp ) có tư cách pháp nhân công pháp (công quyền )tiến hành bằng các văn bản quy phạm pháp luật để thực hiện các chức năng ,nhiệm vụ và quyền hạn mà nhà nước đã giao cho trong việc tổ chức và điều khiển các quan hệ xã hội và hành vi của công dân.

    Phân biệt khái niệm “quản lý nhà nước” và “nhà nước quản lý” 

    • “Quản lý nhà nước” là dạng quản lý xã hội thực thi quyền lực nhà nước, dạng quản lý này được thể hiện trong các cơ quan hành chính nhà nước.
    • “Nhà nước quản lý” là nói đến các chủ thể quản lý ,đó là hệ thống tổ chức của các cơ quan nhà nước, trong đó có các cơ quan hành chính nhà nước.

    1.2. Giáo dục và đào tạo là gì?

    Giáo dục là một quá trình được tổ chức một cách có mục đích ,có kế hoạch nhằm truyền lại và lĩnh hội những tri thức được tích luỹ của loài người.

    Đào tạo là một quá trình đặc thù của giáo dục, nó hướng về giáo dục chuyên nghiệp. Đó là sự phát triển có hệ thống các tri thức, kỹ năng, kỹ xảo …đòi hỏi ở một cá nhân để thực hiện nhiệm vụ chuyên môn nhất định.

    Từ hai khái niệm trên, chúng ta có thể hiểu được Quản lý nhà nước về giáo dục đào tạo chính là việc nhà nước thực hiện quyền lực công để điều hành, điều chỉnh toàn bộ các hoạt động giáo dục và đào tạo trong phạm vi toàn xã hội để thực hiện mục tiêu giáo dục của nhà nước. 

    Hay: Quản lý nhà nước về giáo dục và đào tạo là sự quản lý của các cơ quan quyền lực nhà nước, của bộ máy quản lý giáo dục từ trung ương đến cơ sở đối với hệ thống giáo dục quốc dân và các hoạt động giáo dục của xã hội nhằm nâng cao dân trí, đào tạo nhân lực, bồi dưỡng nhân tài cho đất nước và hoàn thiện nhân cách cho nhân dân.

    hinh-anh-quan-ly-nha-nuoc-ve-giao-duc-va-dao-tao-2

    2. Quan điểm, mục tiêu của Đảng, Nhà nước về giáo dục và đào tạo 

    Quan điểm của Đảng, Nhà nước về giáo dục và đào tạo

    Giáo dục và đào tạo là một lĩnh vực rất quan trọng của đời sống xã hội ,nó liên quan đến nhiều lĩnh vực khác cho nên Đảng và nhà nước ta rất chú trọng phát triển giáo dục và đào tạo .Những năm qua quan điểm của Đảng và nhà nước chủ yếu tập trung ở nghị quyết trung ương hai khoá VIII(nghị quyết chuyên đề về giáo dục và đào tạo);kết luận của hội nghị lần thứ sáu ban chấp hành trung ương Đảng khoá IX;nghị quyết Hội nghị lần thứ chín Ban chấp hành Trung ương Đảng khoá IX ;văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IX,X; luật giáo dục sửa đổi thông qua ngày 14 tháng 6 năm 2005.

    Qua các văn kiện này thể hiện một số quan điểm chỉ đạo phát triển giáo dục và đào tạo như sau: 

    • Giáo dục và đào tạo nhằm vào xây dựng con người có đầy đủ phẩm chất để xây dựng và bảo vệ đất nước.
    • Giữ vững mục tiêu xã hội chủ nghĩa trong giáo dục và đào tạo ,nhất là chính sách công bằng xã hội.
    • Thực sự coi giáo dục là quốc sách hàng đầu, cùng với khoa học và công nghệ, giáo dục và đào tạo là yếu tố quyết định góp phần tăng trưởng kinh tế và phát triển xã hội. 
    • Giáo dục và đào tạo là sự nghiệp của toàn Đảng , của Nhà nước và của toàn dân;mọi người, mọi cấp chăm lo cho giáo dục và đào tạo.
    • Giáo dục và đào tạo phải gắn với nhu cầu phát triển kinh tế –xã hội, với khoa học, công nghệ và củng cố quốc phòng an ninh.
    • Giữ vững vai trò nòng cốt của các trường công lập song song với đa dạng hoá các loại hình giáo dục-đào tạo.
    • Chăm lo cho giáo dục và đào tạo là chăm lo cho con người và xã hội phát triển với các yêu cầu và tiêu chí được xác lập.
    • Phát triển giáo dục và đào tạo phải theo nguyên lý: học đi đôi với hành, giáo dục kết hợp với lao động sản xuất, lý luận gắn liền với thực tiễn, giáo dục nhà trường kết hợp với giáo dục gia đình và giáo dục xã hội. 

    Mục tiêu của Đảng, Nhà nước về giáo dục và đào tạo

    Theo luật giáo dục 2005 thì mục tiêu giáo dục là đào tạo con người Việt Nam phát triển toàn diện, có đạo đức, tri thức, sức khoẻ, thẩm mĩ và nghề nghiệp, trung thành với lí tưởng độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội; hình thành và bồi dưỡng nhân cách, phẩm chất và năng lực của công dân, đáp ứng yêu cầu của sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.

    hinh-anh-quan-ly-nha-nuoc-ve-giao-duc-va-dao-tao-3

    Luận Văn 24 hiện đang cung cấp Dịch vụ viết tiểu luận thuê các đề tài liên quan đến Quản lý nhà nước và giáo dục. Nếu bạn đang gặp bất cứ khó khăn nào trong quá trình hoàn thành bài luận của mình thì hãy để chúng tôi đồng hành và hỗ trợ bạn.

    3. Tính chất, đặc điểm và nguyên tắc quản lý Nhà nước về giáo dục và đào tạo 

    3.1. Tính chất của quản lý Nhà nước về giáo dục và đào tạo

    Quản lý Nhà nước về giáo dục và đào tạo là quản lý Nhà nước về một lĩnh vực cụ thể cho nên nó có tính chất chung của quản lý Nhà nước và quản lý hành chính Nhà nước, cụ thể như sau: 

    Tính lệ thuộc vào chính trị:quản lý Nhà nước về giáo dục ,phục tùng và phục vụ nhiệm vụ chính trị, tuân thủ chủ trương , đường lối của Đảng và Nhà nước.

    Tính xã hội: giáo dục là sự nghiệp của Nhà nước và của toàn xã hội. Trong quản lý Nhà nước về giáo dục và đào tạo cần phải coi trọng tính xã hội và dân chủ hoá giáo dục. 

    Tính pháp quyền: quản lý Nhà nước là quản lý bằng pháp luật vì vậy quản lý Nhà nước về giáo dục và đào tạo cũng phải tuân thủ những quy định chung của pháp luật.

    Tính chuyên môn, nghiệp vụ: cán bộ –công chức hoạt động trong lĩnh vực giáo dục và đào tạo cần được đào tạo có trình độ tương ứng với yêu cầu về tiêu chuẩn các ngạch chức danh đã được quy định. 

    Tính hiệu lực, hiệu quả: lấy hiệu quả của hoạt động chuyên môn nghiệp vụ để đánh giá cán bộ công chức ngành giáo dục và đào tạo. 

    3.2. Đặc điểm của quản lý Nhà nước về giáo dục và đào tạo

    • Kết hợp quản lý hành chính và quản lý chuyên môn trong các hoạt động quản lý giáo dục và đào tạo 

    Quản lý Nhà nước về giáo dục và đào tạo ở cơ sở thực chất là triển khai các hoạt động hành chính Nhà nước trong quá trình chỉ đạo các hoạt động giáo dục ở cơ sở. Đặc điểm hành chính – giáo dục là đặc điểm quan trọng nhất trong hoạt động quản lý Nhà nước về giáo dục và đào tạo. Chỉ trên cơ sở biết kết hợp quản lý hành chính và quản lý chuyên môn thì mới có thể chỉ đạo tốt hoạt động giáo dục và đào tạo.

    • Đặc điểm về tính quyền lực Nhà nước trong hoạt động quản lý

    Đây là hoạt động nổi bật của quản lý Nhà nước và quản lý hành chính ở mọi lĩnh vực nói chung , đó là tính quyền lực trong hoạt động quản lý :tư cách pháp nhân trong quản lý, công cụ và phương pháp quản lý và quan hệ thứ bậc trong quản lý.

    • Đặc điểm kết hợp Nhà nước- xã hội trong quá trình triển khai quản lý Nhà nước về giáo dục và đào tạo

    Dân chủ hoá và xã hội hoá công tác giáo dục là một tư tưởng có tính chiến lược và nó có vai trò rất to lớn trong sự phát triển giáo dục nói chung và quản lý giáo dục nói riêng. 

    hinh-anh-quan-ly-nha-nuoc-ve-giao-duc-va-dao-tao-4

    3.3. Nguyên tắc của quản lý Nhà nước về giáo dục và đào tạo

    Nguyên tắc của quản lý giáo dục là những lao động cơ bản, những yêu cầu, những tiêu chuẩn chỉ đạo việc xây dựng và tổ chức hoạt động của các cơ quan quản lý giáo dục. Hệ thống các nguyên tắc trong quản lý giáo dục và đào tạo được cụ thể hoá tại sơ đồ 2 – phần phụ lục, trên đây chỉ giới thiệu hai nguyên tắc cơ bản của quản lý Nhà nước về giáo dục và đào tạo. 

    • Nguyên tắc kết hợp quản lý theo ngành và quản lý theo lãnh thổ

    Mọi cơ sở giáo dục thực hiện chức năng , nhiệm vụ giáo dục và đào tạo theo sự chỉ đạo ngành dọc nhưng các cơ sở giáo dục đều đóng trên một địa bàn lãnh thổ nhất định vì vậy cũng phải tuân thủ sự quản lý hành chính của địa phương theo quy định phân cấp của Nhà nước.

    Mọi hoạt động quản lý không thể tách rời sự chỉ đạo theo ngành dọc và theo lãnh thổ và chúng được coi là một nguyên tắc quan trọng trong quản lý Nhà nước nói chung và quản lý Nhà nước về giáo dục – đào tạo nói riêng. 

    • Nguyên tắc tập trung dân chủ trong hoạt động quản lý Nhà nước về giáo dục và đào tạo

    Tập trung dân chủ là nguyên tắc cơ bản trong hoạt động chính trị xã hội ở nước ta, đồng thời cũng là nguyên tắc quan trọng trong tổ chức và hoạt động của bộ máy Nhà nước . quản lý Nhà nước về giáo dục – đào tạo cũng tuân thủ theo nguyên tắc này. 

    Nội dung của nguyên tắc tập trung dân chủ ở đây là phát huy quyền chủ động của cơ sở dựa trên hành lang pháp lý được quy định bởi luật giáo dục và những văn bản pháp lí trong hoạt động quản lý giáo dục đồng thời nâng cao tinh thần cá nhân phụ trách, tập thể lãnh đạo và phát huy dân chủ của tập thể theo quy chế dân chủ của cơ sở do chính phủ của bộ giáo dục và đào tạo ban hành.

    Nguyên tắc tập trung dân chủ yêu cầu Nhà nước thống nhất quản lý hệ thống giáo dục quốc dân về mục tiêu , chương trình , nội dung…Qui chế thi cử và hệ thống văn bằng ( theo điều 13, luật giáo dục). Bên cạnh đó phân cấp rõ ràng về quản lý giáo dục cho địa phương và tạo điều kiện để cơ sở phát huy chủ động và sáng tạo.

    4. Vai trò và ý nghĩa của quản lý Nhà nước về giáo dục 

    Giáo dục và đào tạo là lĩnh vực rất quan trọng của đời sống xã hội , nó góp phần quyết định chất lượng cuộc sống của con người và sự phát triển của xã hội.

    Tổ chức UNESCO đã đề cập đến những yếu tố cốt lõi liên quan đến chất lượng cuộc sống của con người trong đó đặc biệt nhấn mạnh đến vai trò của giáo dục và đào tạo. Theo quan điểm này việc nâng cao phẩm chất con người chủ yếu thông qua giáo dục – đào tạo, làm cho cá nhân có thể phát triển tối đa tiềm năng của mình. 

    Giáo dục đào tạo nâng cao phẩm chất cho tong cá nhân, đồng thời làm cho xã hội phát triển. Giáo dục và đào tạo là nguồn lực hàng đầu cho phát triển kinh tế, vì lẽ giáo dục – đào tạo đem lại kiến thức khoa học, trình độ chuyên môn, kĩ năng, kĩ xảo, đạo đức, tư cách, tinh thần trách nhiệm, kỷ luật lao động, óc tìm tòi, sáng tạo…cho con người. Song muốn đạt được các yếu tố trên đòi hỏi phải có nền giáo dục phát triển mà muốn cho giáo dục phát triển thì yếu tố đầu tiên phải kể đến là quản lý Nhà nước về giáo dục và đào tạo. 

    Việt Nam là đất nước có truyền thống giáo dục từ Cách mạng tháng 8 đến nay, truyền thống đó ngày càng được vun đắp. Chủ tịch Hồ Chí Minh đã có tầm nhìn rất xa đối với giáo dục – đào tạo, coi đây là lĩnh vực quan trọng cho sự phát triển. Người cho rằng “Vì lợi ích trăm năm phải trồng người” hay “ Một dân tộc dốt là một dân tộc yếu”. 

    hinh-anh-quan-ly-nha-nuoc-ve-giao-duc-va-dao-tao-5

    Ngày nay khoa học và công nghệ có những bước tiến xa so với nền khoa học công nghệ truyền thống. Muốn nắm bắt được công nghệ mới, con người phải có trình độ học vấn do giáo dục – đào tạo cung cấp, từ đó con người sẽ trở thành động lực thúc đẩy công nghiệp hoá hiện đại hoá đất nước.

    Như vậy giáo dục và đào tạo có vai trò rất lớn và có ảnh hưởng đến mọi lĩnh vực của đời sống xã hội. Cho nên Nhà nước thống nhất quản lý về giáo dục và đào tạo. Vì thông qua quản lý Nhà nước về giáo dục và đào tạo, việc thực hiện các chủ trương chính sách quốc gia nâng cao hiệu quả đầu tư cho giáo dục, chú ý thực hiện các mục giáo dục, nâng cao chất lượng giáo dục mới được triển khai, thực hiện có hiệu quả. 

    Quản lý Nhà nước về giáo dục và đào tạo có thể được coi là khâu then chốt của then chốt nhằm đảm bảo thực hiện thắng lợi của mọi hoạt động giáo dục và đào tạo, tiến tới mục tiêu nâng cao dân trí, đào tạo nhân lực, bồi dưỡng nhân tài cho đất nước và hoàn thiện nhân cách con người.

    Trên đây là bài viết tham khảo giúp bạn hiểu thêm về khái niệm quản lý nhà nước về giáo dục cúng như vai trò và ý nghĩa của nó. Trong quá trình tìm hiểu, nếu có bất kì ý kiến thắc mắc xin liên hệ qua hotline 0988 55 2424 của Luận Văn 24 để được đội ngũ chuyên gia tư vấn giúp đỡ.

    Nguồn: Luanvan24.com

  • Khái niệm và đặc điểm cơ bản của quản lý hành chính nhà nước

    Khái niệm và đặc điểm cơ bản của quản lý hành chính nhà nước

    Quản lý hành chính nhà nước là gì, những đặc điểm cơ bản và nguyên tắc cơ bản ra sao? Đây lag câu hỏi được  rất nhiều người thắc mắc. Bạn không thể phân biệt quản lý nhà nước và quản lý hành chính nhà nước. Cùng Luận Văn 24 tham khảo ngay bài viết dưới đây để cơ thể giải đáp được những thắc mắc này của bạn một cách tốt nhất.

    Phân biệt quản lý hành chính nhà nước với quản lý của tổ chức xã hội

    1. Khái niệm quản lý hành chính nhà nước

    Quản lý hành chính nhà nước là một hình thức hoạt động của nhà nước được thực hiện trước hết và chủ yếu bởi các cơ quan hành chính nhà nước, có nội dung là bảo đảm sự chấp hành luật, pháp lệnh và các nghị quyết của cơ quan quyền lực nhà nước, nhằm tổ chức và chỉ đạo thực hiện một cách trực tiếp và thường xuyên công cuộc xây dựng kinh tế, văn hoá, xã hội và hành chính – chính trị của nước ta. Hay nói một cách khác, quản lý hành chính nhà nước là hoạt động chấp hành, điều hành của nhà nước.

    Chủ thể của quản lý hành chính nhà nước là các cơ quan hành chính nhà nước, cán bộ, công chức nhà nước có thẩm quyền, các cơ quan kiểm sát, xét xử và các tổ chức xã hội, cá nhân được nhà nước trao quyền quản lý hành chính trong một số trường hợp cụ thể. Quản lý toàn dân, toàn diện (chính trị, kinh tế, văn hóa, …), quản lý bằng pháp luật.

    Khách thể của quản lý hành chính nhà nước là trật tự quản lý hành chính

    2. Các nguyên tắc quản lý hành chính nhà nước

    2.1. Các nguyên tắc chính trị xã hội

    2.1.1. Nguyên tắc Đảng lãnh đạo trong quản lý hành chính nhà nước

    Cơ sở pháp lý: Ðiều 4 – Hiến pháp 1992 quy định: Ðảng cộng sản Việt Nam-đội ngũ tiên phong của giai cấp công nhân Việt Nam, đại biểu trung thành quyền lợi của giai cấp công nhân, nhân dân lao động và của cả dân tộc, theo chủ nghĩa Mác – Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh, là lực lượng lãnh đạo nhà nước và xã hội.

    Nội dung nguyên tắc

    Thực tế lịch sử đã chỉ rõ, sự lãnh đạo của Ðảng là hạt nhân của mọi thắng lợi của cách mạng Việt Nam. Bằng những hình thức và phương pháp lãnh đạo của mình, Ðảng cộng sản giữ vai trò quyết định đối với việc xác định phương hướng hoạt động của nhà nước trên mọi lĩnh vực; sự lãnh đạo của Ðảng đối với nhà nước mang tính toàn diện về chính trị, kinh tế, văn hóa xã hội…

    Sự lãnh đạo đó chính là việc định hướng về mặt tư tưởng, xác định đường lối, quan điểm giai cấp, phương châm, chính sách, công tác tổ chức trên lĩnh vực chuyên môn. Nguyên tắc Ðảng lãnh đạo trong quản lý hành chính nhà nước biểu hiện cụ thể ở các hình thức hoạt động của các tổ chức Ðảng:

    Trước hết, Ðảng lãnh đạo trong quản lý hành chính nhà nước bằng việc đưa ra đường lối, chủ trương, chính sách của mình về các lĩnh vực hoạt động khác nhau của quản lý hành chính nhà nước. Trên cơ sở đường lối chủ trương, chính sách của Ðảng. Các chủ thể quản lý hành chính nhà nước xem xét và đưa ra các quy định quản lý của mình để từ đó đường lối, chủ trương, chính sách của Ðảng sẽ được thực hiện hóa trong quản lý hành chính nhà nước.

    hinh-anh-quan-ly-hanh-chinh-nha-nuoc-2

    Trên thực tế, đường lối cải cách hành chính nhà nước được đề ra trong nghi quyết đại hội đại biểu Ðảng cộng sản Việt nam lần thứ VI và thứ VII và trong Nghị quyết trung ương khoá VIII về xây dựng, hoàn thiện Nhà nước Cộng hoà Xã hội Chủ nghĩa Việt nam, mà trọng tâm là cải cách một bước nền hành chính quốc gia là kim chỉ nam cho hoạt động quản lý hành chính nhà nước.

    Ðảng lãnh đạo trong quản lý hành chính nhà nước thể hiện trong công tác tổ chức cán bộ. Các tổ chức Ðảng đã bồi dưỡng, đào tạo những Ðảng viên ưu tú, có phẩm chất và năng lực gánh vác những công việc trong bộ máy hành chính nhà nước, đưa ra các ý kiến về việc bố trí những cán bộ phụ trách vào những vị trí lãnh đạo của các cơ quan hành chính nhà nước.

    Tuy nhiên vấn đề bầu, bổ nhiệm được thực hiện bởi các cơ quan nhà nước theo trình tự, thủ tục do pháp luật quy định, ý kiến của tổ chức Ðảng là cơ sở để cơ quan xem xét và đưa ra quyết định cuối cùng.

    Ðảng lãnh đạo trong quản lý hành chính nhà nước thông qua công tác kiểm tra việc thực hiện đường lối, chủ trương, chính sách của Ðảng trong quản lý hành chính nhà nước. Thông qua kiểm tra xác định tính hiệu quả, tính thực tế của các chủ trương chính sách mà Ðảng đề ra từ đó khắc phục khiếm khuyết, phát huy những mặt tích cực trong công tác lãnh đạo.

    Sự lãnh đạo của Ðảng trong quản lý hành chính nhà nước còn được thực hiện thông qua uy tín và vai trò gương mẫu của các tổ chức Ðảng và của từng Ðảng viên. Ðây là cơ sở nâng cao uy tín của Ðảng đối với dân, với cơ quan nhà nước.

    Ðảng chính là cầu nối giữa nhà nước và nhân dân. Sự lãnh đạo của Ðảng là cơ sở bảo đảm sự phối hợp của các cơ quan nhà nước và tổ chức xã hội, lôi cuốn nhân dân lao động tham gia thực hiện các nhiệm vụ quản lý nhà nước ở tất cả các cấp quản lý.

    Ðây là nguyên tắc cơ bản trong quản lý hành chính nhà nước, cần được vận dụng một cách khoa học và sáng tạo cơ chế Ðảng lãnh đạo, nhà nước quản lý, nhân dân làm chủ trong quản lý hành chính nhà nước, tránh khuynh hướng tuyệt đối hóa vai trò lãnh đạo của Ðảng cũng như khuynh hướng hạ thấp vai trò lãnh đạo của Ðảng trong quản lý hành chính nhà nước.

    Vì vậy, đường lối, chính sách của Ðảng không được dùng thay cho luật hành chính, Ðảng không nên và không thể làm thay cho cơ quan hành chính nhà nước. Các nghị quyết của Ðảng không mang tính quyền lực- pháp lý. Tuy nhiên, để bảo đảm hiệu quả hoạt động quản lý nhà nước không thể tách rời sự lãnh đạo của Ðảng.

    hinh-anh-quan-ly-hanh-chinh-nha-nuoc-3

    2.1.2. Nguyên tắc bình đẳng giữa các dân tộc

    Cơ sở pháp lý:

    Việt Nam là nước có nhiều dân tộc cùng sinh sống trên lãnh thổ. Các dân tộc đều có quyền bình đẳng với nhau trong mọi lĩnh vực. “Nhà nước CH XHCN Việt nam là nhà nước thống nhất của các dân tộc sinh sống trên đất nước Việt Nam

    Nhà nước thực hiện chính sách bình đẳng, đoàn kết, tương trợ giữa các dân tộc, nghiêm cấm mọi hành vi kỳ thị, chia rẽ dân tộc”. (Ðiều 5- Hiến pháp 1992)

    Nội dung nguyên tắc:

    • Trong công tác lãnh đạo và sử dụng cán bộ

    Nhà nước ưu tiên đối với con em các dân tộc ít người, thực hiện chính sách khuyến khích về vật chất, tinh thần để họ học tập. Số cán bộ nhà nước là người dân tộc ít người cũng chiếm một số lượng nhất định trong cơ quan nhà nước, tạo điều kiện cho người dân tộc ít người cùng tham gia quyết định những vấn đề có liên quan đến quyền và lợi ích chính đáng của họ và các vấn đề quan trọng khác của đất nước.

    • Trong việc hoạch định các chính sách phát triển kinh tế-văn hóa-xã hội

    Nhà nước chú ý tới việc đầu tư xây dựng công trình quan trọng về kinh tế, quốc phòng ở các vùng dân tộc ít người, một mặt khai thác những tiềm năng kinh tế, xóa bỏ sự chênh lệch giữa các vùng trong đất nước, đảm bảo nâng cao đời sống vật chất tinh thần của các dân tộc ít người.

    Nhà nước có những chính sách đúng đắn đối với người đi xây dựng vùng kinh tế mới, tổ chức phân bố lại lao động một cách hợp lý tạo điều kiện thuận lợi để các dân tộc ít người nâng cao về mọi mặt.

    Những ưu tiên cho các dân tộc ít người là sự cần thiết không thể phủ nhận nhằm bù đắp phần nào cho việc thiếu thốn điều kiện, đồng thời để tất cả các dân tộc có thể đủ điều kiên để vươn lên trong xã hội. Tuy nhiên, sự ưu tiên chính sách sẽ mất đi tác dụng nếu vượt khỏi phạm vi khuyến khích, động viên.

    Nếu sự ưu tiên quá lớn, chắc chắn sẽ dẫn đến việc cùng một vị trí giống nhau, nhưng hai khả năng không tương đồng nhau. Ðiều này sẽ dẫn đến những khó khăn nhất định trong công việc chung cũng như cho chính bản thân người được ưu tiên đó.

    hinh-anh-quan-ly-hanh-chinh-nha-nuoc-4

    2.1.3. Nguyên tắc pháp chế xã hội chủ nghĩa

    Cơ sở pháp lý 

    Ðây là nguyên tắc thể hiện một nguyên lý căn bản của tổ chức và hoạt động của bộ máy nhà nước. Bởi vì trước hết việc tổ chức và hoạt động hành chính phải hợp pháp, tức là phải tuân theo pháp luật. Tăng cường pháp chế xã hội chủ nghĩa vì vậy là một biện pháp để phát huy dân chủ xã hội chủ nghĩa. “Nhà nước quản lý xã hội bằng pháp luật và không ngừng tăng cường pháp chế xã hội chủ nghĩa”. (Ðiều 12- Hiến pháp 1992)

    Nội dung nguyên tắc

    Biểu hiện của nguyên tắc pháp chế xã hội chủ nghĩa trong quản lý hành chính nhà nước như sau:

    • Trong lĩnh vực lập quy

    Khi ban hành quy phạm pháp luật thuộc phạm vi thẩm quyền của mình, các cơ quan hành chính nhà nước phải tôn trọng pháp chế xã hội chủ nghĩa, phải tôn trọng vị trí cao nhất của hiến pháp và luật, nội dung văn bản pháp luật ban hành không được trái với hiến pháp và văn bản luật, chỉ được ban hành những văn bản quy phạm pháp luật trong phạm vi thẩm quyền và hình thức, trình tự, thủ tục do pháp luật quy định.

    • Trong lĩnh vực thực hiện pháp luật

    Việc áp dụng quy phạm pháp luật phải tuân theo nguyên tắc pháp chế xã hội chủ nghĩa, tức là phải phù hợp với yêu cầu của luật và các văn bản quy phạm pháp luật khác, phải thiết lập trách nhiệm pháp lý đối với các chủ thể áp dụng quy phạm pháp luật, mọi vi phạm phải xử lý theo pháp luật, áp dụng pháp luật phải đúng nội dung, thẩm quyền và phải tôn trọng những văn bản quy phạm pháp luật do chính cơ quan ấy ban hành.

    • Trong lĩnh vực tổ chức

    Ðể đảm bảo pháp chế trong quản lý hành chính nhà nước đòi hỏi việc thực hiện pháp chế phải trở thành chức năng quan trọng của mọi cơ quan quản lý và ngay trong bộ máy quản lý cũng phải có những tổ chức chuyên môn thực hiện chức năng này.

    Vi phạm nguyên tắc pháp chế xã hội chủ nghĩa trong lĩnh vực tổ chức là vi phạm nguyên tắc tập trung dân chủ và nguyên tắc nhân dân lao động tham gia đông đảo vào quản lý hành chính nhà nước, vi phạm mối quan hệ giữa các cơ quan hành chính nhà nước với nhau.

    • Trong việc quản lý nói chung

    Mở rộng, bảo đảm các quyền dân chủ của công dân. Mọi quyết định hành chính và hành vi hành chính đều phải dựa trên quyền và lợi ích hợp pháp của công dân trực tiếp hoặc gián tiếp. Ngược lại, việc hạn chế quyền công dân chỉ được áp dụng trên cơ sở hiến định.

    hinh-anh-quan-ly-hanh-chinh-nha-nuoc-5

    • Phải chịu trách nhiệm trước xã hội và pháp luật

    Các chủ thể quản lý hành chính nhà nước phải chịu trách nhiệm do những sai phạm của mình trong hoạt động quản lý hành chính nhà nước, xâm phạm đến lợi ích tới quyền và lợi ích hợp pháp của công dân và phải bồi thường cho công dân. Chính vì vậy, hoạt động quản lý gắn liền với một chế độ trách nhiệm nghiêm ngặt đối với một chủ thể quản lý. Chế độ trách nhiệm ấy thông qua pháp luật và các hệ thống kỷ luật nhà nước.

    Cụ thể hơn, yêu cầu của quản lý đặt dưới sự thanh tra, kiểm tra giám sát và tài phán hành chính để pháp chế được tuân thủ thống nhất, mọi vi phạm đều bị phát hiện và xử lý theo đúng pháp luật. Sự kiểm tra và giám sát ấy, trước hết phải được bảo đảm thực hiện chính từ chủ thể quản lý. Tự kiểm tra với tư cách tổ chức chuyên môn vì thế cũng rất cần thiết như sự kiểm tra, giám sát từ phía các cơ quan nhà nước tương ứng, các tổ chức xã hội và công dân.

    Bạn đang gặp khó khăn trong việc hoàn thành các bài tiểu luận cuối kỳ các môn liên quan đến Quản lý Nhà Nước? Bạn không có đủ thời gian để tập trung viết tiểu luận. Đừng lo lắng, hãy tham khảo Dịch vụ viết tiểu luận thuê của Luận Văn 24. Chúng tôi cam kết sẽ giải quyết vấn đề của bạn nhanh chóng và hiệu quả nhất.

    2.2. Các nguyên tắc tổ chức – kỹ thuật

    2.2.1. Nguyên tắc quản lý theo ngành kết hợp với quản lý theo địa giới hành chính

    Ngành là một phạm trù chỉ tổng thể những đơn vị, tổ chức sản xuất, kinh doanh có cùng một cơ cấu kinh tế-kỹ thuật hay các tổ chức, đơn vị hoạt động với cùng một mục đích giống nhau. Có sự phân chia các hoạt động theo ngành tất yếu dẫn đến việc thực hiện hoạt động quản lý theo ngành.

    Quản lý theo ngành là hoạt động quản lý ở các đơn vị, các tổ chức kinh tế, văn hóa, xã hội có cùng cơ cấu kinh tế-kỹ thuật hay hoạt động với cùng một mục đích giống nhau nhằm làm cho hoạt động của các tổ chức, đơn vị này phát triển một cách đồng bộ, nhịp nhàng, đáp ứng được yêu cầu của nhà nước và xã hội.

    Hoạt động quản lý theo ngành được thực hiện với hình thức, quy mô khác nhau, có thể trên phạm vi toàn quốc, trên từng địa hay một vùng lãnh thổ.

    Quản lý theo địa giới hành chính là quản lý trên một phạm vi địa bàn nhất định theo sự phân vạch địa giới hành chính của nhà nước. Quản lý theo địa giới hành chính ở nước ta được thực hiện ở bốn cấp:

    • Cấp Trung ương (cấp nhà nước)
    • Tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương;
    • Huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh;
    • Xã, phường, thị trấn.

    Nội dung của hoạt động quản lý theo địa giới hành chính gồm đề ra các chủ trương, chính sách, có quy hoạch và kế hoạch phát triển kinh tế xã hội trên một phạm vi toàn lãnh thổ. Bắt đầu từ quy hoạch xây dựng và quản lý kết cấu hạ tầng cho sản xuất, đời sống dân cư sống và làm việc trên lãnh thổ. Tiếp đó, có sự tổ chức điều hòa phối hợp sự hợp tác, quản lý thống nhất về khoa học công nghệ, liên kết, liên doanh các đơn vị kinh tế, văn hóa, xã hội trên lãnh thổ…

    Trong hoạt động quản lý hành chính nhà nước, quản lý theo ngành luôn được kết hợp chặt chẽ với quản lý theo địa giới hành chính. Ðây chính là sự phối hợp giữa quản lý theo chiều dọc của các Bộ với quản lý theo chiều ngang của chính quyền địa phương theo sự phân công trách nhiệm và phân cấp quản lý giữa các ngành, các cấp. Sự kết hợp này là một nguyên tắc cơ bản trong quản lý hành chính nhà nước, mang tính cần thiết, khách quan.

    hinh-anh-quan-ly-hanh-chinh-nha-nuoc-6

    2.2.2. Nguyên tắc quản lý theo ngành kết hợp với quản lý theo chức năng

    Khi thực hiện hoạt động quản lý ngành đòi hỏi các chủ thể quản lý phải thực hiện rất nhiều việc chuyên môn khác nhau như lập quy hoạch và kế hoạch phát triển ngành, quản lý thực hiện các khoản thu chi, giám sát, kiểm tra việc thực hiện pháp luật…Do khối lượng công việc quản lý ngày càng nhiều và mang tính chất phức tạp nên đòi hỏi tính chuyên môn hóa cao, vì thế nhu cầu quản lý theo chức năng luôn được đặt ra.

    Quản lý theo chức năng là quản lý theo từng lĩnh vực chuyên môn nhất định của hoạt động quản lý hành chính nhà nước. Cơ quan quản lý theo chức năng là cơ quan quản lý một lĩnh vực chuyên môn hay một nhóm các lĩnh vực chuyên môn có liên quan với nhau.

    Quản lý theo ngành kết hợp với quản lý theo chức năng nhằm đảm bảo việc thực hiện có hiệu quả từng chức năng quản lý riêng biệt của các đơn vị, tổ chức trong ngành, đồng thời bảo đảm mối quan hệ liên ngành, làm cho toàn bộ hoạt động của hệ thống ngành được phối hợp chặt chẽ, có hiệu quả.

    Ví dụ: Trong lĩnh vực xây dựng, có sự kết hợp giữa Bộ Xây dựng, Bộ kế hoạch và đầu tư, Bộ Giao thông vân tải…Trong đó, Bộ Xây dựng có vai trò trung tâm, kết hợp với các bộ và các cơ quan hữu quan lập nên các dự án qui hoạch xây dựng tương ứng.

    Theo quy định của pháp luật, hệ thống các cơ quan chuyên môn được hình thành để thực hiện việc quản lý theo chức năng. Theo hệ thống dọc có bộ, sở, phòng, ban chuyên môn quản lý chức năng, chịu sự quản lý của cơ quan quản lý theo chức năng có thẩm quyền ở cấp trên. Nguyên tắc này thể hiện quyền hạn, nhiệm vụ của cơ quan quản lý theo chức năng trong việc thực hiện các hoạt động quản lý hành chính nhà nước. Cụ thể:

    Các cơ quan quản lý theo chức năng có quyền ban hành các quy phạm pháp luật, các mệnh lệnh cụ thể liên quan đến chức năng quản lý của mình theo quy định của pháp luật, có tính chất bắt buộc thực hiện đối với các cơ quan quản lý chuyên ngành.

    Các cơ quan quản lý theo chức năng kiểm tra việc thực hiện các chính sách, chủ trương do mình đề ra, xử lý hay đề nghị cấp có thẩm quyền xử lý các hành vi vi phạm các chính sách, chủ trương đó theo quy định của pháp luật.

    Có thể nói nguyên tắc quản lý theo ngành kết hợp với quản lý theo chức năng là một nguyên tắc có tầm quan trọng rất lớn trong hoạt động quản lý hành chính nhà nước, nó giúp cho hoạt động của bộ máy hành chính nhà nước có sự đồng bộ và thống nhất với nhau. Nếu thiếu sự liên kết này, hoạt động của ngành trở nên thiếu đồng bộ, ảnh hưởng không nhỏ đến hiệu quả của hoạt động quản lý hành chính nhà nước.

    hinh-anh-quan-ly-hanh-chinh-nha-nuoc-7

    2. Các đặc điểm cơ bản của quản lý hành chính nhà nước

    Các nguyên tắc quản lý hành chính nhà nước mang tính chất khách quan bởi vì chúng được xây dựng, đúc kết từ thực tế cuộc sống và phản ánh các quy luật phát triển khách quan. Tuy nhiên, các nguyên tắc trên cũng mang yếu tố chủ quan bởi vì chúng được xây dựng bởi con người mà con người dựa trên những nhận thức chủ quan để xây dựng.

    Các nguyên tắc quản lý hành chính nhà nước có tính ổn định cao nhưng không phải là nguyên tắc bất di bất dịch. Nó gắn liền với quá trình phát triển của xã hội, tích lũy kinh nghiệm, thành quả của khoa học về quản lý hành chính nhà nước.

    Tính độc lập tương đối với chính trị. Hệ thống chính trị của nhà nước Việt nam được thực hiện thông qua: các tổ chức chính trị xã hội (Ðảng, Mặt trận tổ quốc…), và bộ máy nhà nước (Lập pháp, hành pháp, tư pháp). Trong hệ thống nguyên tắc quản lý hành chính nhà nước có cả những nguyên tắc riêng, đặc thù trong hoạt động quản lý hành chính nhà nước.

    Tuy nhiên giữa hoạt động chính trị và quản lý nhà nước có mối quan hệ hữu cơ chặt chẽ. Các quan điểm chính trị là cơ sở của việc tổ chức hoạt động quản lý hành chính nhà nước và hoạt động quản lý hành chính nhà nước thực hiện tốt không chỉ đòi hỏi được trên pháp luật (luật), mà còn phải thực hiện đúng đắn các quan điểm chính trị (chính sách).

    Mỗi nguyên tắc quản lý hành chính nhà nước có nội dung riêng, phản ánh những khía cạnh khác nhau của quản lý hành chính nhà nước. Tuy nhiên, những nguyên tắc này có mối quan hệ chặt chẽ với nhau tạo thành một thể thống nhất. Việc thực hiện tốt nguyên tắc này sẽ tạo tiền đề cho việc thực hiện có hiệu quả nguyên tắc khác. Vì thế nên các nguyên tắc quản lý hành chính nhà nước luôn thể hiện tính hệ thống, tính thống nhất và đây là một thuộc tính vốn có của chúng.

    hinh-anh-quan-ly-hanh-chinh-nha-nuoc-8

    3. Phân biệt quản lý nhà nước và quản lý hành chính nhà nước

    Xuất phát từ khái niệm quản lý nhà nước là hoạt động của nhà nước trên các lĩnh vực lập pháp, hành pháp tư pháp nhằm thực hiện chức năng đối ngoại của nhà nước, ta thấy giữa 2 hoạt động quản lý nhà nước nói chung và quản lý hành chính nói riêng có những điểm riêng sau:

    Quản lý nhà nước:

    • Khái niệm : rộng hơn
    • Quản lý nhà nước bằng chỉ đạo hoạt động: Lập pháp, Hành pháp, Tư pháp để thực hiện chức năng đối nội và đối ngoại của nhà nước

    * Chủ thể:

    • Nhà nước và các cơ quan nhà nước .
    • Các tổ chức xã hội và cá nhân được trao quyền lực nhà nước, nhân danh nhà nước .

    * Khách thể:

    • Trật tự quản lý nhà nước mới được xác định bởi quy phạm pháp luật.

    Quản lý hành chính nhà nước

    • Khái niệm: Hẹp hơn
    • Quản  lý hành chính nhà nước bằng hoạt động chỉ đạo pháp luật ( hành pháp) nhằm bảo đảm sự chấp hành luật, pháp lệnh nghị quyết, của cơ quan quyền lực nhà nước (cơ quan dân chủ)

    * Chủ thể:

    • Cơ quan hành chính nhà nước .
    • Cán bộ nhà nước có thẩm quyền .

    *Khách thể:

    • Đảm bảo hoạt động chấp hành, điều hành trên cơ sở pháp luật để chỉ đạo thực hiện pháp luật.

    Trên đây là bài viết tham khảo cung cấp kiến thức đầy đủ để bạn hiểu được khái niệm quản lý hành chính nhà nước đặc điểm cơ bản. Ngoài ra còn phân biệt quản lý nhà nước và quản lý hành chính nhà nước. Trong quá trình tìm hiểu, nếu có bất kì ý kiến thắc mắc xin liên hệ qua hotline 0988 55 2424 của Luận Văn 24 để được đội ngũ chuyên gia tư vấn giúp đỡ.

    Nguồn: Luanvan24.com

  • Ma trận EFE là gì? Các bước xây dựng và ví dụ về ma trận EFE

    Ma trận EFE là gì? Các bước xây dựng và ví dụ về ma trận EFE

    Ma trận EFE là một mô hình, một công cụ phân tích môi trường bên ngoài có tính ứng dụng thực tế và được các doanh nghiệp sử dụng rộng rãi. Còn đối với các bạn sinh viên kinh tế, thì đây sẽ là một dạng bài tập mà các bạn nhất định phải hoàn thành khi ngồi trên ghế nhà trường và kiến thức mà bạn phải ghi nhớ sau này.

    Hinh-anh-ma-tran-efe-1
    Ma trận EFE là gì?

    Bài viết này, Luận Văn 24 sẽ giúp bạn tổng hợp các kiến thức có liên quan đến ma trận EFE gồm khái niệm và các bước xây dựng ma trận EFE. Đồng thời cung cấp cho bạn mẫu ma trận EFE của Vinamilk để bạn tham khảo.

    Khái niệm ma trận EFE là gì?

    Ma trận EFE được viết đầy đủ theo tiếng anh là External Factor Evaluation Matrix dịch ra là ma trận đánh giá các yếu tố bên ngoài. Ma trận EFE là một mô hình giúp bạn phân tích môi trường bên ngoài của doanh nghiệp dựa trên nhiều cấp độ, gồm có: môi trường ngành, môi trường vĩ mô và môi trường thế giới.

    Dựa vào ma trận EFE các nhà lãnh đạo, hoạch định chiến lược của doanh nghiệp sẽ biết được các cơ hội và nguy cơ có thể đến với doanh nghiệp của mình và đưa ra những nhận định và đánh giá về các tác động của cá nhân tố đó tới doanh nghiệp là lợi hay hại.

    Tùy vào quy mô, hình thức, lĩnh vực và thị trường mỗi doanh nghiệp hướng tới mà các yếu tố và các cấp độ nghiên cứu sẽ khác nhau.

    Nếu doanh nghiệp có quy mô nhỏ, chỉ kinh doanh ở một khu vực nào đó, thì chúng ta sẽ chỉ xem xét đến các yếu tố có ảnh hưởng ở cấp độ ngành và vĩ mô. Việc phân tích thêm môi trường thế giới cũng không giúp ích gì nhiều cho doanh nghiệp, đồng thời nó còn tiêu tốn thời gian, công sức, thậm chí là những quyết định và đánh giá sai lầm.

    Ngược lại nếu là doanh nghiệp lớn, thì chúng ta cần phân tích kỹ càng những yếu tố ảnh hưởng trên cả ba cấp độ ngành, vĩ mô, thế giới để có được cái nhìn tổng quát nhất, đánh giá chính xác nhất được các tác động, nhìn nhận những cơ hội và thách thức lớn với doanh nghiệp để từ đó có chiến lược phát triển và hướng đi hợp lý. 

    Các bước xây dựng ma trận EFE

    Ma trận EFE được xây dựng thông qua 4 bước sau:

    Bước 1: Xác định các yếu tố quan trọng

    Ở bước này bạn cần liệt kê từ 10-20 yếu tố có vai trò quyết định đến sự thành bại của doanh nghiệp dựa trên những đánh giá từ các số liệu được nghiên nghiên cứu một cách kỹ càng, thận trọng. Các yếu tố này bao gồm cả những thách thức và cơ hội đối với công ty, ngành nghề kinh doanh của doanh nghiệp bạn.

    Hinh-anh-ma-tran-efe-2
    Xác định cơ hội và thách thức của công ty\
    Hiện tại, Luận Văn 24 đang nhận viết thuê luận văn thạc sĩ, luận văn tốt nghiệp thuê các đề tài thuộc lĩnh vực kinh tế. Nếu bạn đang gặp những khó khăn trong việc hoàn thành bài luận của mình, đừng ngần ngại mà hãy để chúng tôi chia sẻ cùng bạn.

    Bước 2: Ấn định chỉ số tầm quan trọng (trọng số)

    Sau khi đã liệt kê được các yếu tố ảnh hưởng, bạn sẽ phải đánh giá tầm quan trọng của các yếu tố này với mức độ từ 0 đến 1 (không quan trọng đến rất quan trọng). Việc đánh giá này cần phải hết sức khách quan, dựa trên các số liệu thực tế và thường được làm việc theo hội đồng vì tính quan trọng của nó.

    Để số liệu được khách quan nhất, bạn cần so sánh số liệu với các đối thủ cạnh tranh trực tiếp trong ngành, cả những doanh nghiệp thành công và thất bại. Những yếu tố nào có thể làm cho một doanh nghiệp thất bại cần được đánh giá thận trọng, không thể xem nhẹ nó.

    Mức độ quan trọng của các yếu tố có thể khác hoặc trùng nhau nhưng phải đảm bảo rằng tổng tầm quan trọng của các yếu tố bằng 1.

    Bước 3: Đánh giá tác động của từng yếu tố (Hệ số phản ứng)

    Có những yếu tố quan trọng có thể làm một doanh nghiệp nào nó thất bại nhưng đối với doanh nghiệp của bạn nó có thể không có tác động mạnh mẽ đến vậy, do nhiều yếu tố thời gian, con người, mô hình,.. Nên việc đánh giá mức độ tác động của từng yếu tố đến doanh nghiệp rất quan trọng.

    Mức độ tác độ sẽ được đánh giá theo thang điểm từ 1 đến 4 tương ứng với các mức tác động là:

    1-  Phản ứng ở mức độ ít

    2- Phản ứng ở mức độ trung bình

    3- Phản ứng ở mức độ trên trung bình

    4-  Phản ứng ở mức độ tốt

    Bước 4: Tính điểm và tổng điểm

    Điểm quan trọng của từng yếu tố được xác định bằng cách nhân chỉ số tầm quan trọng với mức độ ảnh hưởng. Tổng điểm quan trọng của từng yếu tố chính là điểm số quan trọng của doanh nghiệp.

    Bất kể một doanh nghiệp có nhiều cơ hội hay nhiều thử thách như thế nào thì tổng điểm của doanh nghiệp chỉ có thể nằm trong khoảng 1.0 đến 4.0. Giá trị của tổng điểm này có thể giúp chúng ta đánh giá được mức độ phản ứng của doanh nghiệp đối với các cơ hội và thách thức hiện tại như thế nào.

    • Tổng điểm bằng 1 chứng tỏ các chiến lược kinh doanh của doanh nghiệp đang không hiệu quả, chưa đối phó được với các thách thức và chưa biết cách tận dụng cơ hội.
    • Tổng điểm bằng 2.5 chứng tỏ các chính sách, chiến lược của doanh nghiệp đang ở mức trung bình, chưa tận dụng triệt để cơ hội và chưa biết cách đối phó khôn ngoan với các mối đe dọa.
    • Tổng điểm bằng 4 chứng tỏ doanh nghiệp đang có một chiến lược kinh doanh hiệu quả, tận dụng tối đa được các cơ hội, và đối phó được với toàn bộ các thử thách đến với doanh nghiệp của mình.

    Ma trận EFE của Vinamilk

    Để giúp các bạn hiểu rõ hơn về cách xây dựng ma trận EFE và ý nghĩa của các chỉ số quan trọng, Luận Văn 24 sẽ cung cấp cho bạn mẫu ma trận EFE của Vinamilk – thương hiệu sữa hàng đầu Việt Nam để các bạn tham khảo.

    Hinh-anh-ma-tran-efe-3

    Hinh-anh-ma-tran-efe-4
    Ma trận EFE của Vinamilk

    Mặc dù là hãng sữa số 1 tại thị trường Việt Nam nhưng dựa trên số liệu trên với tổng điểm là 2.78 có thể thấy rằng Vinamilk mới dừng ở mức trung bình, doanh nghiệp đang kinh doanh khá tốt. 

    Tuy nhiên nếu có chiến lược tận dụng được tối đa các cơ hội và khắc phục đối phó hiệu quả với các mối đe dọa hơn nữa thì Vinamilk sẽ phát triển mạnh mẽ hơn nữa không chỉ ở thị trường trong nước mà còn trên thị trường thế giới.

    Trên đây là toàn bộ kiến thức về ma trận EFE mà chúng tôi đã tổng hợp để mang đến cho bạn. Hy vọng bạn sẽ tận dụng nó một cách hiệu quả. Nếu bạn có nhu cầu thuê viết luận văn hãy liên hệ với Luận Văn 24 chúng tôi qua số điện thoại 0988 55 2424 hoặc qua email luanvan24@gmail.com để được tư vấn và hỗ trợ.

    Nguồn: Luanvan24.com