Viết đề cương cho luận văn thạc sĩ là một bước quan trọng và không thể thiếu trong quá trình làm luận văn thạc sĩ. Bạn vẫn chưa biết cách viết? Bạn cần tham khảo mẫu đề cương chi tiết? Trong bài viết sau đây, Luận Văn 24 sẽ chia sẻ đến bạn cách viết đề cương luận văn thạc sĩ chuẩn và chi tiết nhất.
Cách viết đề cương luận văn thạc sĩ
1. Cách viết đề cương luận văn thạc sĩ
Hình thức bìa đề cương luận văn thạc sĩ
Khi viết đề cương luận văn thạc sĩ, bạn cần chú ý đến những nội dung bắt buộc sau đây:
Họ và tên của bạn
Trường/Cơ sở đào tạo
Tên đề tài
Chuyên ngành mà bạn theo học
Mã số
Tên người hướng dẫn
Thời gian (Ngày, tháng, năm nộp đề cương luận văn)
Mục lục và lời cảm ơn đề cương luận văn thạc sĩ: Hai mục này sẽ nằm ngay sau bìa đề cương đề cương
Về hình thức trình bày tổng quan, bao gồm:
Trang bìa (Bìa mềm và trang phụ bìa)
Mục lục
Danh mục các từ viết tắt (nếu có).
Danh mục các sơ đồ, hình vẽ, bảng, biểu
Nêu vấn đề
Chương 1: Tổng quan tài liệu.
Chương 2: Đối tượng và phương pháp nghiên cứu.
Chương 3: Dự kiến kết quả.
Chương 4: Dự kiến bàn luận.
Dự kiến Kết luận
Kế hoạch thực hiện
Danh mục tài liệu tham khảo
Phụ lục
Những tiêu chuẩn về định dạng đề cương luận văn thạc sĩ trong Word:
Font chữ: Times New Roman
Cỡ chữ: 13 hoặc 14 (Tùy theo yêu cầu của trường/cơ sở đào tạo mà bạn theo học)
Dãn dòng: 1,5 lines
Đánh số trang ở giữa, trên đầu mỗi trang
Căn chỉnh lề: Lề trên 3,5cm; lề dưới 3,0cm; lề trái 3,5cm; lề phải 2cm
Chú ý: Mỗi trường sẽ có những tiêu chuẩn khác nhau về định dạng luận văn, vì vậy để tránh sai format, bạn nên kiểm tra kỹ.
2. Mẫu đề cương luận văn thạc sĩ
Để bạn dễ hình dung được đề cương chi tiết luận văn thạc sĩ có cấu trúc như thế nào, trong phần này, Luận Văn 24 xin chia sẻ mẫu đề cương chi tiết luận văn thạc sĩ.
Mẫu đề cương luận văn thạc sĩ chi tiết
2.1. Phần mở đầu đề cương luận văn thạc sĩ
1. Tính cấp thiết của đề tài
Trong phần đều của đề cương luận văn thạc sĩ này, bạn cần nêu ra được 2 nội dung chính, bao gồm:
Chủ đề hay vấn đề nghiên cứu là gì?
Câu hỏi nghiên cứu
Bằng cách nào?
Để làm nổi bật được chủ đề, bạn cần phác họa được một bức tranh tổng quan về quá khứ và hiện tại của chủ đề nghiên cứu, từ đó tìm ra khoảng trống để đặt ra câu hỏi nghiên cứu. Cụ thể, bạn list ra những bài báo hoặc những công trình nghiên cứu mới nhất có liên quan trực tiếp đến đề tài nghiên cứu của mình.
Nói cách khác, bạn cần giải thích được lý do tại sao một vấn đề/ câu hỏi nghiên cứu là quan trọng và việc tiến hành đề tài luận văn của bạn là cần thiết.
2. Mục tiêu nghiên cứu
Việc thực hiện đề tài luận văn của bạn nhằm mục đích gì về mặt lý luận và thực tiễn? Ở phần này, bạn cần đưa ra được các mục tiêu nghiên cứu một cách logic và liên hệ mật thiết với tính cấp thiết cũng như giả thuyết của đề tài.
3. Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu ở đây là sự vật, hiện tượng được lựa chọn để nghiên cứu. Nhiệm vụ của bạn là xác định được đối tượng nghiên cứu là ai? Vấn đề/hoạt động gì?
4. Phạm vi nghiên cứu
Ở đây, bạn cần nêu rõ về thời gian và không gian tiến hành đề tài luận văn cũng như phạm vi thời gian của số liệu được thu thập (số liệu thứ cấp có thể tồn tại trước khi tiến hành đề tài luận văn).
5. Những đóng góp mới, ý nghĩa khoa học hoặc thực tiễn
Ý nghĩa khoa học: Những phát hiện mới từ đề tài luận văn có góp phần gì vào việc lấp khoảng trống tri thức hiện tại?
Ý nghĩa thực tiễn: Bạn cần nêu bật được giải pháp hữu ích cho vấn đề đang được quan tâm, đặc biệt là những vấn đề có tính cấp thiết trong thực tiễn
Nếu như bạn đang gặp khó khăn trong quá trình hoàn thành bài luận văn, hãy tham khảo Dịch vụ viết thuê Luận văn của Luận Văn 24 – Chúng tôi sẽ giải quyết vấn đề của bạn nhanh chóng và hiệu quả nhất.
2.2. Nội dung chi tiết từng chương
Chương 1: Cơ sở khoa học của đề tài
Cơ sở lý luận của đề tài
Để viết được phần này tốt, bạn cần phải sưu tầm tài liệu, tổng hợp, và sắp xếp một cách logic xung quanh một luận đề chính nhằm cung cấp cho người đọc những kiến thức lý luận cần thiết liên quan đến câu hỏi nghiên cứu và mục tiêu của đề tài luận văn.
Giải thích về các khái niệm và các thuật ngữ liên quan cũng như tổng quan các lý thuyết liên quan đến lĩnh vực nghiên cứu.
Cơ sở thực tiễn
Ở phần này, bạn đề cập đến một số trường hợp điển hình có liên quan đến nội dung nghiên cứu của đề tài, trên cơ sở nghiên cứu các trường hợp điển hình, sẽ rút ra bài học kinh nghiệm cho vấn đề nghiên cứu.
Tổng quan các công trình nghiên cứu có liên quan
Bạn cần phân tích, đánh giá có biện luận các công trình nghiên cứu đã công bố có liên quan mật thiết đến đề tài luận văn; chỉ ra những kiến thức đã biết, những vấn đề còn tồn tại, những khoảng trống kiến thức mà luận văn tập trung giải quyết; nêu cách tiếp cận/hướng giải quyết vấn đề.
Chi tiết như sau:
Đề ra điểm xuất phát của vấn đề nghiên cứu dựa trên hay là sự tiếp tục các công trình đã được công bố;
Xác định những hạn chế (khoảng trống) trong tri thức hiện tại về vấn đề nghiên cứu; trình bày nhận thức về những thành tựu trong lĩnh vực đó;
Nêu rõ quan điểm khác nhau của những vấn đề còn tranh luận liên quan đến đề tài;
Phân tích, đánh giá những điểm mạnh và điểm yếu của các nghiên cứu trước;
Chứng minh tầm quan trọng và sự phù hợp của đề tài nghiên cứu;
Nêu rõ cách giải quyết vấn đề trong đề tài nghiên cứu.
Chương 2: Đặc điểm địa bàn và phương pháp nghiên cứu
Đặc điểm địa bàn nghiên cứu
Nội dung nghiên cứu
Phần này bạn cần trả lời câu hỏi mình đã làm gì để đạt được mục tiêu của đề tài
luận văn hay trả lời các câu hỏi nghiên cứu.
Phương pháp nghiên cứu
Trong phương pháp nghiên cứu, bạn cần làm rõ các nội dung sau đây:
Thiết kế nghiên cứu
Các chỉ tiêu nghiên cứu và phương pháp xác định
Quy trình nghiên cứu
Phân tích số liệu
Hệ thống chỉ tiêu nghiên cứu
Trình bày tên chỉ tiêu, công thức tính và ý nghĩa của chỉ tiêu được sử dụng trong nghiên cứu đề tài
Chương 3: Dự kiến kết quả nghiên cứu đạt được
Nêu và liệt kê ra trình bày tên chỉ tiêu, công thức tính và ý nghĩa của chỉ tiêu được sử dụng trong nghiên cứu đề tài
Tài liệu tham khảo
Đề xuất của người hướng dẫn
Người hướng dẫn:…
Trường…
Kế hoạch thực hiện luận văn
Mẫu kế hoạch thực hiện luận văn tham khảo
Trên đây là mẫu đề cương luận văn thạc sĩ chi tiết, hi vọng với những chia sẻ hữu ích này, bạn sẽ có thể dễ dàng áp dụng đối với bài luận văn của mình để đạt điểm số ấn tượng nhất. Nếu còn bất kỳ thắc mắc gì vui lòng liên hệ hotline 0988z55 2424 để được tư vấn và hỗ trợ trực tiếp.
Việc xác định đề tàiluận văn thạc sĩ kế toán yêu cầu người làm luận văn phải dựa vào thực tế, khả năng, kinh nghiệm và kiến thức chuyên môn để chọn lựa và đề xuất một đề tài cụ thể. Làm thế nào để chọn được một đề tài luận văn dễ “ăn điểm” nhưng lại phải phù hợp với khả năng của bản thân? Tất cả sẽ được Luận Văn 24 giải đáp trong bài viết này.
Kế toán là một ngành phổ biến trong đời sống hiện nay. Với các sinh viên chuyên ngành kế toán, việc làm luận văn kế toán là một bước đệm quan trọng trước khi bước chân ra xã hội thực tế.
Với mỗi sinh viên kế toán có một chuyên ngành khác nhau. Dưới đây, Luận Văn 24 xin giới thiệu tới bạn một số loại luận văn thạc sĩ kế toán hay thông dụng nhất:
Luận văn thạc sĩ kế toán quản trị
Luận văn thạc sĩ kế toán vốn bằng tiền
Luận văn thạc sĩ kế toán quản trị chi phí
Luận văn thạc sĩ kế toán bán hàng
Luận văn thạc sĩ kế toán nguyên vật liệu
Luận văn thạc sĩ kế toán thuế
Luận văn thạc sĩ kế toán công nợ phải thu phải trả
Luận văn thạc sĩ hoàn thiện tổ chức công tác kế toán
Luận văn thạc sĩ hoàn thiện tổ chức công tác kế toán
Luận văn thạc sĩ kế toán các khoản phải thu
Luận văn thạc sĩ kế toán xác định kết quả kinh doanh
2. Hướng dẫn chọn đề tài luận văn thạc sĩ kế toán
2.1. Tầm quan trọng của việc lựa chọn đề tài luận văn thạc sĩ kế toán
Một trong những nhiệm vụ hàng đầu của sinh viên hay học viên cao học thạc sĩ là lựa chọn đề tài viết luận văn. Việc chọn đề tài phải dựa vào ngành học cũng như các tình huống thực tiễn tại công ty hoặc trong xã hội. Các đề tài nghiên cứu thường được lựa chọn qua kinh nghiệm, kiến thức tích lũy được cũng như đặt trong bối cảnh của công ty.
Việc chọn đề tài ảnh hưởng trực tiếp và xuyên suốt đến cả quá trình làm bài luận văn của bạn. Nếu bạn chọn đề tài quá phổ biến thì chắc chắn điểm sẽ không thể đạt quá cao, vì trong đề tài không có sự đột phá, mới mẻ. Nhưng nếu bạn lựa chọn một đề tài mới hay và khó thì bạn sẽ chịu nhiều áp lực, áp lực thời gian, áp lực kiến thức và áp lực từ điểm số. Tuy nhiên, nếu bạn đạt được thì thành tích sẽ rất nổi bật.
Trong quá trình lựa chọn đề tài luận văn thạc sĩ , nếu bạn gặp phải bất kì khó khăn gì cần giúp đỡ thì đừng ngần ngại liên hệ qua hotline 0988 55 2424 để dịch vụ tư vấn làm luận văn thạc sĩ của chúng tôi. Với kinh nghiệm hơn 12 năm trong nghề, chúng tôi chắc chắn sẽ mang đến cho bạn bài luận văn thạc sĩ kế toán hoàn hảo nhất.
2.2. Thế nào là một đề tài luận văn ấn tượng?
Một đề tài nghiên cứu thông thường được đánh giá tốt cần đáp ứng các yêu cầu cơ bản sau:
Có phạm vi giới hạn: Khi phạm vi càng được thu hẹp thì vấn đề nghiên cứu càng được đào sâu, còn phạm vi rộng thì dễ dẫn đến nguy cơ dàn trải, thiếu tập trung, xử lý các vấn đề chỉ ở trên bề mặt.
Đề tài phải có tính cấp thiết trong thời điểm tiến hành nghiên cứu.Vấn đề đang là điểm nóng bỏng về giáo dục nghề nghiệp cần phải giải quyết và giải quyết được nó sẽ đem lại giá trị thiết thực cho lý luận và thực tiễn, đóng góp cho sự phát triển hiện tại.
Có tính độc đáo và mới mẻ: Một đề tài luận văn cần có tính mới mẻ và độc đáo. Kết quả của một quá trình nghiên cứu và viết luận văn phải mang lại kết quả mới cũng như một nét riêng. Không trùng với những kết quả hay các đề tài trước đó.
Lưu ý: Đối với luận văn Thạc sĩ kế toán là một chuyên ngành cụ thể. Phương pháp chọn đề tài luận văn thạc sĩ kế toán cũng cụ thể bởi vì nghiên cứu ở cấp cử nhân có lẽ phần lớn đã nghiên cứu ở đơn vị nhỏ. Thế nên đối với luận văn thạc sĩ, bạn nên chọn doanh nghiệp quy mô khá lớn, tránh công ty kiểu gia đình.
Nên chọn đề tài luận văn thạc sĩ kế toán thì sẽ chọn những đối tượng rộng như: chuẩn mực kế toán Việt Nam, tổ chức công tác kế toán trong doanh nghiệp vừa và lớn, báo cáo tài chính,…
3. List 30 đề tài luận văn thạc sĩ kế toán mới nhất 2020
1. Kế toán chi phí và giá thành sản xuất bê tông tươi tại Công ty XYZ
2. Kế toán doanh thu, chi phí và xác định kết quả kinh doanh tại Công ty XYZ
3. Kế toán chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm tại Công ty XYZ
4. Phân tích báo cáo tài chính của Công ty XYZ
5. Kế toán trách nhiệm tại Tổng Công ty XYZ
6. Hoàn thiện hệ thống kiểm soát nội bộ tại Công ty XYZ
7. Hoàn thiện tổ chức kế toán trong các đơn vị sự nghiệp đào tạo thuộc Bộ Y tế
8. Hoàn thiện kế toán quản trị chi phí tại Công ty XYZ
9. Hoàn thiện hệ thống kiểm soát nội bộ với việc tăng cường quản lý tài chính tại Tổng Công ty XYZ
10. Hoàn thiện kế toán tiêu thụ và xác định kết quả tại các doanh nghiệp sản xuất dây và cáp điện Việt Nam
11. Kiểm toán nội bộ báo cáo quyết toán vốn đầu tư dự án hoàn thành với việc tăng cường kiểm soát nội bộ và nâng cao hiệu quả quản lý tại Công ty XYZ
12. Hoàn thiện kiểm toán hàng tồn kho trong kiểm toán báo cáo tài chính do các Công ty kiểm toán độc lập Việt Nam thực hiện tại các doanh nghiệp sản xuất
13. Hoàn thiện phân tích báo cáo tài chính với việc tăng cường quản lý tài chính tại Tổng Công ty XYZ
14. Hoàn thiện tổ chức kế toán chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm trong các doanh nghiệp sản xuất rượu
15. Phân tích năng lực tài chính Công ty XYZ
16. Phân tích ảnh hưởng của sự khác biệt giữa chuẩn mực kế toán Việt Nam với chuẩn mực kế toán quốc tế đến quyết định của nhà đầu tư
17. Nghiên cứu và đề xuất áp dụng lập báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh theo chuẩn mực kế toán quốc tế để tăng cường tính hội nhập cho kế toán Việt Nam
18. Tổ chức hoạt động phân tích tài chính tại Công ty XYZ
19. Hoàn thiện kiểm soát nội bộ quy trình quản lý nợ thuế, nợ tiền chậm nộp, nợ phạt đối với hàng hóa xuất nhập khẩu tại Cục Hải quan tỉnh XYZ
20. Hoàn thiện kiểm soát nội bộ về thu thuế tiền sử dụng đất tại Chi cục thuế XYZ
21. Các nhân tố ảnh hưởng đến báo cáo quyết toán thuế của các doanh nghiệp nhỏ tại thành phố XYZ
22. Các nhân tố ảnh hưởng đến kiểm soát rủi ro trong công tác quản lý thuế nhập khẩu tại Cục Hải quan tỉnh XYZ
23. Các nhân tố ảnh hưởng đến việc vận dụng Chuẩn mực kế toán giá trị hợp lý vào việc lập và trình bày báo cáo tài chính tại các doanh nghiệp trên địa bàn tỉnh XYZ
24. Các nhân tố ảnh hưởng đến kiểm soát rủi ro trong công tác quản lý thuế nhập khẩu tại Cục Hải quan tỉnh XYZ
25. Hoàn thiện kiểm soát nội bộ công tác thanh tra, kiểm tra thuế tại Cục thuế tỉnh XYZ
26. Hoàn thiện công tác kế toán ngân sách nhà nước tại Kho bạc Nhà nước XYZ
27. Vận dụng quy trình kiểm toán để hoàn thiện quy trình thanh tra tại Bảo hiểm xã hội tỉnh XYZ
28. Các nhân tố ảnh hưởng đến chất lượng thông tin trên báo cáo tài chính của các công ty XYZ
29. Các yếu tố ảnh hưởng tới việc quyết định chọn dịch vụ kế toán của các Doanh nghiệp vừa và nhỏ tại tỉnh XYZ
30. Ảnh hưởng đặc điểm hội đồng quản trị đến chất lượng thông tin trên báo cáo tài chính của các công ty niêm yết tại Sở giao dịch chứng khoán XYZ
Bài viết trên đã chia sẻ cho bạn thông tin và gợi ý cho bạn về cách lựa chọn đề tài luận văn thạc sĩ kế toán. Hy vọng thông qua bài viết trên giúp bạn có thêm nhiều lựa chọn cho bài luận văn của mình. Nếu còn bất kỳ thắc mắc gì vui lòng liên hệ hotline 0988 55 2424 để được tư vấn và hỗ trợ trực tiếp.
Dịch vụ là một loại sản phẩm kinh tế nhưng không phải là vật phẩm, mà là công việc của con người dưới hình thái lao động thể lực, kiến thức, kỹ năng chuyên nghiệp, khả năng tổ chức và thương mại. Vậy dịch vụ thương mại là gì? Vai trò và đặc điểm của dịch vụ thương mại là gì? Cùng Luận Văn 24 tìm hiểu qua bài viết dưới đây.
1. Dịch vụ thương mại là gì?
1.1. Dịch vụ là gì?
Theo từ điển Kinh tế học hiện đại cho rằng: Dịch vụ là các chức năng hoặc các nhiệm vụ được thực hiện mà người ta có cầu và do đó tạo ra giá cả hình thành nên một thị trường thích hợp. Đôi khi dịch vụ được đề cập đến như là những hàng hóa vô hình, một trong những đặc điểm của chúng là được tiêu thụ ngay tại điểm sản xuất. Thường thì chúng không thể chuyển nhượng được, do đó không đầu cơ được, với ý nghĩa này, dịch vụ không thể được mua để sau đó bán lại với mức giá khác.
Có người quan niệm dịch vụ là làm một công việc cho người khác hay cộng đồng, là một việc mà hiệu quả của nó đáp ứng một nhu cầu nào đó của con người như: vận chuyển, cung cấp nước, đón tiếp, sửa chữa và bảo dưỡng các thiết bị máy móc hay công trình.
Cũng có người nhận định: Dịch vụ là những hoạt động lao động mang tính xã hội, tạo ra các sản phẩm hàng hóa không tồn tại dưới hình thái vật thể, không dẫn đến chuyển quyền sở hữu nhằm thỏa mãn kịp thời các nhu cầu sản xuất và đời sống sinh hoạt của con người.
Từ những cách hiểu không giống nhau ở trên, có thể định nghĩa: Dịch vụ là những hoạt động mang tính phục vụ chuyên nghiệp nhằm đáp ứng nhu cầu nào đó của con người, của xã hội.
1.2. Khái niệm dịch vụ thương mại
Tiến sỹ Lê Thiền Hạ (Viện Nghiên cứu Thương mại) đưa ra định nghĩa sau về dịch vụ: “Dịch vụ thương mại là khái niệm để chỉ các ngành kinh tế mà quá trình sản xuất của nó không tạo ra hàng hoá thông thường nhưng lại tạo ra dịch vụ (hàng hoá đặc biệt) bằng cách đáp ứng nhu cầu của con người (cho người khác) ngoài nhu cầu về hàng hoá do nông nghiệp và công nghiệp cung cấp.”
Hiện nay, khi mà ngành dịch vụ thể hiện vai trò ngày càng quan trọng trong nền kinh tế thì lại càng có nhiều quan niệm khác nhau về dịch vụ dưới nhiều góc độ khác nhau. Sau đây chúng ta sẽ xem xét dịch vụ theo lý thuyết kinh tế học. Theo lý thuyết này thì “dịch vụ thương mại là một loại sản phẩm kinh tế nhưng không phải là vật phẩm, mà là công việc của con người dưới hình thái lao động thể lực, kiến thức, kỹ năng chuyên nghiệp, khả năng tổ chức và thương mại.”
2. Đặc điểm của sản phẩm dịch vụ thương mại
Tính vô hình hay phi vật chất
Dễ thấy tất cả các sản phẩm dịch vụ đều vô hình, do vậy người ta không thể biết được chất lượng của dịch vụ trước khi tiêu dùng chúng. Không những thế ngay cả chất lượng của dịch vụ cũng rất khó đánh giá, vì nó chịu nhiều tác động của các yếu tố khác nhau như người bán, người mua và cả thời điểm mua bán dịch vụ đó.
Do vậy, để giảm bớt tính không chắc chắn khi tiêu dùng dịch vụ, người mua thường tham khảo ý kiến của những người đã tiêu dùng dịch vụ, hay họ có thể căn cứ vào địa điểm, nhân viên, trang thiết bị, thông tin, biểu tượng hay giá cả.
Tính không thể tách rời ra khỏi nguồn gốc
Tức là các sản phẩm dịch vụ thương mại có quá trình sản xuất và tiêu thụ diễn ra đồng thời. Do vậy, khác với sản phẩm vật chất, sản xuất xong mới tiêu thụ được mà ở sản phẩm dịch vụ quá trình này phải diễn ra đồng thời.
Dịch vụ thương mại không thể tách rời ra khỏi nguồn gốc của nó cho dù đó là người hay máy móc. Đây cũng là một điểm hạn chế của doanh nghiệp kinh doanh dịch vụ, vì vậy cần có những quan điểm chiến lược khắc phục sự hạn chế này, ví dụ như nhân viên cung ứng dịch vụ có thể học cách làm việc với những nhóm đông khách hàng, nhà cung ứng có thể tìm cách làm giảm thời gian cung ứng dịch vụ hoặc mở rộng mạng lưới phân phối bằng cách đào tạo nhiều người cung ứng dịch vụ hơn.
Tính không ổn định và khó xác định chất lượng
Thực ra đây là vấn đề chúng ta thường gặp phải đối với rất nhiều sản phẩm, song với sản phẩm dịch vụ thương mại thì đặc điểm này biểu hiện rõ nét hơn cả.
Vì chất lượng dịch vụ dao động trong một khoảng rất rộng, nó còn tuỳ thuộc vào hoàn cảnh tạo ra dịch vụ, ví dụ như nhân viên, thời gian và địa điểm cung ứng dịch vụ. Đơn giản như trường hợp đối với một người thợ cắt tóc, anh ta không thể đảm bảo cắt tóc cho tất cả mọi người đều đẹp như nhau bởi điều đó phụ thuộc vào khả năng của anh ta, phụ thuộc vào tâm trạng của anh ta lúc cắt tóc cũng như phụ thuộc vào cảm nhận của từng khách hàng…
Tính không lưu giữ được
Dịch vụ thương mại không thể được cất trữ trong kho để làm phần đệm cho sự thay đổi nhu cầu thị trường như các sản phẩm vật chất khác. Chính vì vậy sản phẩm dịch vụ tuy không mất chi phí bảo quản trong kho nhưng bên cạnh đó đặc điểm này còn gây nên nhiều hạn chế khác.
Sẽ không có gì đáng nói nếu nhu cầu về dịch vụ ổn định và dự đoán đựơc chính xác nhưng nếu nhu cầu dịch vụ thay đổi thất thường thì doanh nghiệp kịnh doanh dịch vụ sẽ gặp khó khăn rất lớn về khả năng huy động cơ sở vật chất kỹ thuật và nhân lực.
Do vậy, các doanh nghiệp kinh doanh dịch vụ thương mại cần xây dựng kế hoạch về nhu cầu thị trường thật chính xác để có các phương án thích hợp khi nhu cầu thị trường thay đổi hoặc tăng cao. Giống như trong đợt tết vừa qua hãng Hàng không Việt Nam đã phải thực hiện hàng loạt chuyến bay không tải từ miền Nam ra miền Bắc, bởi nhu cầu đi một chiều từ miền Bắc vào miền Nam sau tết tăng quá cao.
Nếu như bạn đang gặp khó khăn trong quá trình hoàn thành bài luận văn, hãy liên hệ Dịch vụ tư vấn hỗ trợ viết thuê Luận văn – Chúng tôi sẽ giải quyết vấn đề của bạn nhanh chóng và hiệu quả nhất.
3. Vai trò của dịch vụ thương mại là gì?
Dịch vụ thương mại chỉ là một nhánh của hoạt động dịch vụ. Dịch vụ thương mại bao gồm tất cả các hoạt động nhằm hỗ trợ cho quá trình kinh doanh của doanh nghiệp, bao gồm hỗ trợ trước, trong và sau khi bán, có thể đi kèm sản phẩm hoặc không.
Dịch vụ thương mại có vai trò rất lớn đối với các đơn vị sản xuất vật chất, ngoài ra thực hiện tốt hoạt động dịch vụ còn giúp cho các doanh nghiệp thúc đẩy đựơc hoạt động bán hàng diễn ra nhanh hơn do rút ngắn thời gian ra quyết định của khách hàng.
Vì vậy, nó giúp đẩy nhanh tốc độ lưu chuyển hàng hóa tiển tệ, kinh doanh đạt hiệu quả cao hơn xét cả ở tầm vĩ mô và vi mô. Ngoài ra, nó còn đẩy nhanh hoạt động dịch vụ thương mại còn giúp doanh nghiệp tạo được rào chắn vững chắc ngăn cản sự xâm nhập của đối thủ cạnh tranh vào khu vực thị trường của mình, giúp việc phát triển thị trường cho các doanh nghiệp và giữ thị trường này phát triển ổn định.
Mong rằng qua bài viết trên bạn đã có cái nhìn tổng quan về dịch vụ thương mại là gì, đặc điểm và vai trò của dịch vụ thương mại. Nếu còn bất kỳ thắc mắc gì vui lòng liên hệ hotline 0988 55 2424 để được tư vấn và hỗ trợ trực tiếp.
Bạn đang cần chọn đề tài luận văn thạc sĩ quản lý kinh tế nhưng vẫn loay hoay chưa biết đề tài nào hay và phù hợp với mình. Bài viết dưới đây Luận văn 24 sẽ chia sẻ với bạn một số đề tài luận văn trong lĩnh vực quản lý kinh tế giúp bạn có thêm nhiều lựa chọn tốt nhất
Tổng hợp các đề tài luận văn ngành kinh tế hay nhất
1. Đề tài luận văn tốt nghiệp ngành kinh tế: Xây dựng đội ngũ cán bộ quản lý kinh tế vĩ mô ở Việt nam trong điều kiện hiện nay
2. Đề tài Chức năng tổ chức và quản lý kinh tế của Nhà nước CHXHCN Việt Nam
3. Đề tài Áp dụng các phương pháp quản lý kinh tế trong các doanh nghiệp Việt Nam hiện nay
4. Đề tài luận văn thạc sĩ lĩnh vực quản lý kinh tế: Vai trò quản lý kinh tế của nhà nước trong nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa
5. Đề tài Phân biệt những điểm chủ yếu của quản lý nhà nước về kinh tế và quản ký kinh doanh của doanh nghiệp.
6. Đề tài Những tư tưởng Nho giáo và vận dụng vào quản lý nền Kinh tế thị trường Việt Nam hiện nay
7. Đề tài Thể chế quản lý kinh tế và sự can thiệp của nhà nước đối với thị trường
8. Đề án Nâng cao chất lượng đào tạo và bồi dưỡng cán bộ quản lý kinh tế ở nước ta hiện nay
9. Đề tài luận văn thạc sĩ quản lý kinh tế: Kinh tế thị trường và vài trò quản lý vĩ mô của nhà nước đối với nền kinh tế
10. Đề tài Quản lý thuế khu vực kinh tế ngoài quốc doanh ở Hà Tây – Thực trạng và giải pháp
11. Đề tài Sự cần thiết khách quan của quản lý nhà nước đối với nền kinh tế
12. Đề tài Phân tích nội dung của phương pháp quản lý kinh tế trong hệ thống phương pháp quản lý – Từ đó nêu lên ý nghĩa của nó trong việc vận dụng phương pháp kinh tế ở đơn vị của đồng chí
13. Đề tài Phân tích nội dung của phương pháp quản lý kinh tế trong hệ thống phương pháp quản lý – Từ đó nêu lên ý nghĩa của nó trong việc vận dụng phương pháp kinh tế ở đơn vị của đồng chí
14. Đề tài Đường lối cách mạng của Đảng cộng sản Việt Nam – Kinh tế thị trường
15. Đề tài luận văn thạc sĩ quản lý kinh tế: Kinh tế thị trường có sự quản lý của nhà nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa
16. Đề tài Kinh tế thị trường có sự quản lý của nhà nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa
17. Đề tài Quản lý kinh tế biển – Kinh nghiệm quốc tế và vận dụng vào Việt Nam
18. Đề tài Những lý luận chung về việc cần phải phân định chức năng quản lý về kinh tế của nhà nước và chức năng kinh doanh
19. Đề tài Phân tích cơ chế quản lý kinh tế Việt Nam thời kì trước đổi mới
20. Đề tài Tính tất yếu khách quan vai trò quản lý kinh tế vi mô của nhà nước trong nền kinh tế
21. Đề tài Thực trạng áp dụng công cụ kinh tế trong quản lý môi trường trên địa bàn thành phố Hà Nội
22. Đề tài Quản lý nhà nước đối với các doanh nghiệp kinh tế quốc phòng
23. Đề tài Vai trò của pháp luật đối với việc phát triển kinh tế ở Việt Nam hiện nay
24. Đề tài Lý luận tuần hoàn và chu chuyển của tư bản, vận dụng vào các doanh nghiệp sản xuất công nghiệp của Việt Nam trong nền kinh tế thị trường định hướng XHCN
25. Đề tài Phân tích, chứng minh tính nghệ thuật của quản lý kinh doanh và đề xuất các giải pháp vận dụng có hiệu quả vào các doanh nghiệp ở nước ta hiện nay
26. Đề tài Quản lý kinh tế có vai trò quan trọng trong nền kinh tế hiện nay
27. Đề tài Đánh giá công tác quản lý phát triển kinh tế trong chương trình nông thôn mới ở huyện Quảng điền, tỉnh thừa thiên Huế
28. Đề tài Quản lý nhà nước đối với hoạt động du lịch trên địa bàn tỉnh Ninh Bình
29. Đề tài Mục tiêu và chức năng quản lý kinh tế vĩ mô của Nhà nước và một số giải pháp cơ bản nhằm đổi mới và tăng cường vai trò kinh tế của Nhà nước
30. Đề tài Tình hình phát triển kinh tế ảnh hưởng đến hoạt động quản lý nguồn nhân lực
Trên đây là bài viết tổng hợp 30 đề tài luận văn thạc sĩ quản lý kinh tế, hy vọng có thể giúp bạn lựa chọn được đề tài hay, thiết thực cho bài luận sắp tới của mình. Nếu còn bất kỳ thắc mắc gì vui lòng liên hệ hotline 0988 55 2424 để được tư vấn và hỗ trợ trực tiếp.
Trong quá trình làm bài luận văn tốt nghiệp, nếu bạn gặp phải bất kì khó khăn gì cần giúp đỡ thì đừng ngần ngại liên hệ qua hotline 0988 55 2424 để dịch vụ tư vấn làm luận văn thạc sĩ của chúng tôi giúp bạn hoàn thành bài luận văn của mình một cách tốt nhất.
Trong những năm gần đây, du lịch ở nước ta đang đà phát triển mạnh mẽ, hướng tới trở thành ngành kinh tế mũi nhọn. Song song với đó, dịch vụ du lịch cũng được nhiều người quan tâm. Vậy dịch vụ du lịch là gì? dịch vụ du lịch có những đặc điểm nào? Cùng Luận Văn 24 tìm hiểu trong bài viết dưới đây nhé.
1. Du lịch là gì?
Du lịch là các hoạt động có liên quan đến chuyến đi của con người (cá nhân hoặc tập thể) đến những nơi không thuộc khu vực mình cư trú thường xuyên nhằm mục đích tham quan, vui chơi, giải trí, nghỉ dưỡng trong một khoảng thời gian nhất định (không bao gồm mục đích công việc).
Ngành du lịch có mối liên kết mạnh mẽ với các nhóm ngành khác (nhất là về dịch vụ) như: ngành dịch vụ lưu trú, ăn uống, giao thông, giải trí. Có thể nói, chúng có mối quan hệ cùng tiến, cùng lùi với nhau. Ngành du lịch hiện mang lại rất nhiều cơ hội việc làm, mức thu nhập tốt dành cho người lao động.
2. Dịch vụ du lịch là gì?
Theo Luật du lịch năm 2005 của Quốc hội Nước cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam: “Dịch vụ du lịch là việc cung cấp các dịch vụ về lữ hành, vận chuyển, lưu trú, ăn uống, vui chơi giải trí, thông tin, hướng dẫn và những dịch vụ khác nhằm đáp ứng nhu cầu của khách du lịch.”
Dịch vụ du lịch là sự kết hợp những dịch vụ và phương tiện vật chất trên cơ sở khai thác các tiềm năng du lịch nhằm cung cấp cho du khách một khoảng thời gian thú vị, một kinh nghiệm du lịch trọn vẹn và sự hài lòng. Nói một cách đơn giản:
Dịch vụ du lịch = Tài nguyên du lịch + Các dịch vụ và hàng hoá du lịch
Theo Michael M.Coltman, dịch vụ du lịch có thể là một món hàng cụ thể như thức ăn, hoặc một món hàng không cụ thể như chất lượng phục vụ, bầu không khí tại nơi nghỉ mát.
Điểm chung nhất mà dịch vụ du lịch mang lại cho du khách chính là sự hài lòng. Nhưng đó không phải là sự hài lòng như khi ta mua sắm một hàng hoá vật chất mà ở đây sự hài lòng là do được trải qua một khoảng thời gian thú vị, tồn tại trong ký ức của du khách khi kết thúc chuyến đi du lịch. Vậy để thu hút và lưu giữ khách du lịch, chúng ta phải tổ chức các dịch vụ ở những nơi có khí hậu thuận lợi, có vẻ đẹp tự nhiên độc đáo và đồng thời cả những nơi có các di tích lịch sử, các viện bảo tàng.
Thường thường, người ta phân biệt ba mức độ trong khái niệm của một dịch vụ du lịch:
Dịch vụ du lịch chính trả lời cho câu hỏi: người mua thật sự muốn được gì? Sản phẩm này là trung tâm của số cung đối với du khách. Sản phẩm chính không phải xác định theo một thành phần chính mà là nhu cầu cần thoả mãn chính hoặc là phần lợi ích của sản phẩm này khác với các sản phẩm cạnh tranh khác, chẳng hạn một điểm trượt tuyết, một sân golf, một chỗ nghỉ mát, một chuyến du hành đường thuỷ…
Dịch vụ du lịch hình thức: Dịch vụ du lịch hình thức tương ứng với sản phẩm mà nó có mặt lúc mua hoặc chọn lựa. Nó là sản phẩm cốt yếu được cụ thể hóa bằng những yếu tố hoặc những dịch vụ rõ ràng như khách sạn, nhà hàng, trang thiết bị. Nó không còn là một sản phẩm ở trong khái niệm mà là một thành phẩm có thương mại hóa và có ích hoặc được du khách tiêu thụ.
Dịch vụ du lịch mở rộng: là toàn bộ những yếu tố liên quan đến người tiêu dùng, tức là du khách, là tổng thể do các yếu tố nhìn thấy được cũng như không nhìn thấy được cung cấp cho người du lịch, đặc biệt là những lợi ích tâm lý như là cảm giác lạ, được coi là thành phần ưu tú, thượng lưu…
Dịch vụ du lịch nhằm thoả mãn nhu cầu tiêu dùng đặc biệt (nhu cầu hiểu biết kho tàng văn hoá lịch sử, nhu cầu thưởng thức vẻ đẹp thiên nhiên …).
Mặc dù trong cấu thành dịch vụ du lịch có những hàng hoá và dịch vụ nhằm thoả mãn nhu cầu ăn ở, đi lại của con người nhưng mục đích chính của chuyến đi không phải để thoả mãn nhu cầu ấy mà là để giải trí, tìm hiểu, nâng cao tầm hiểu biết, nghiên cứu … Vì vậy cần phải chú ý vào nhu cầu của du khách để họ cảm thấy hài lòng.
Dịch vụ du lịch chỉ thoả mãn những nhu cầu thứ yếu của con người. Du lịch là nhu cầu phát sinh sau khi con người đã đủ ăn, mặc. Vì vậy nhu cầu du lịch chỉ đặt ra khi người ta có thời gian nhàn rỗi và có thu nhập cao. Như vậy, du lịch là một trong những khoản chi tiêu bị cắt giảm đầu tiên nếu mức thu nhập giảm.
Dịch vụ du lịch là không cụ thể, do đó không đặt ra vấn đề nhãn hiệu như là hàng hoá. Vì vậy mà dịch vụ du lịch rất dễ bị bắt chước, cụ thể là người ta sao chép chương trình du lịch đã đặt ra, bắt chước cách bày trí phòng đón tiếp hay một quy trình phục vụ được nghiên cứu công phu.
Do tính chất không cụ thể nên không thể kiểm tra chất lượng sản phẩm trước khi mua, vì vậy nhiều người chưa từng đi du lịch rất phân vân khi chọn dịch vụ du lịch nào. Chính vì vậy, quảng cáo trong du lịch rất là quan trọng.
Việc tiêu dùng dịch vụ du lịch xảy ra cùng một thời gian và địa điểm nơi sản xuất ra chúng. Do đó dịch vụ du lịch là không thể dự trữ được. Khi một buồng khách sạn không được thuê thì đêm nay khách sạn sẽ mất doanh thu chứ không thể để dành lưu kho để cộng thêm vào số buồng cho thuê đêm mai được. Như vậy khách du lịch không thể thấy dịch vụ du lịch trước khi mua. Thêm vào đó, chúng ta không thể vận chuyển dịch vụ du lịch tới cho khách hàng mà khách hàng phải tự đến nơi sản xuất ra dịch vụ du lịch.
Việc tiêu dùng dịch vụ du lịch có tính thời vụ. Đây là hiện tượng lúc thì cung không đáp ứng được cầu trong du lịch, lúc thì cầu quá thấp so với khả năng cung ứng. Nguyên nhân chính là trong du lịch, lượng cung khá ổn định trong thời gian dài còn nhu cầu khách hàng thì thường xuyên thay đổi, dẫn tới có sự chênh lệch giữa cung và cầu. Như vậy, kinh doanh du lịch có tính thời vụ (Trương Sĩ Quý, Hà Quang Thơ, 1995).
Hiện tại, Luận Văn 24 đang cung cấp dịch vụ viết thuê luận văn. Nếu bạn bận rộn không có thời gian để hoàn thành hay gặp bất cứ khó khăn nào trong việc hoàn thành bài luận, hãy để chúng tôi đồng hành cùng bạn giải quyết mọi vấn đề.
4. Vai trò của dịch vụ du lịch
Du lịch là một ngành dịch vụ mang lại nguồn thu ngoại tệ cho đất nước, đóng góp quan trọng cho sự tăng trưởng và phát triển kinh tế, làm tăng thu nhập quốc dân, tăng tỷ trọng GDP của ngành dịch vụ, góp phần tích cực trong việc cân bằng cán cân thanh toán quốc tế.
Dịch vụ du lịch tạo ra việc làm trực tiếp và gián tiếp cho các tầng lớp dân cư, góp phần nâng cao dân trí, đời sống vật chất tinh thần cho người dân, mở rộng giao lưu giữa các vùng, miền trong nước và nước ngoài, tăng cơ hội việc làm cho người lao động, khôi phục các làng nghề thủ công và lễ hội truyền thống có nguy cơ bị mai một và giảm bớt tình trạng đói nghèo, góp phần thay đổi diện mạo đô thị, nông thôn được chỉnh trang sạch đẹp hơn.
Du lịch là một ngành được mệnh danh là “con gà đẻ trứng vàng” đã giúp nhiều quốc gia có nguồn thu ngoại tệ hàng tỷ USD mỗi năm, bởi du lịch là hoạt động xuất khẩu hiệu quả nhất. Tính hiệu quả trong kinh doanh du lịch được thể hiện chỗ Du lịch là ngành “xuất khẩu tại chỗ” rất hiệu quả những dịch vụ, hàng hoá công nghiệp – tiểu thủ công nghiệp, hàng tiêu dùng nông sản thực phẩm, hàng thủ công mỹ nghệ,…
Du lịch không chỉ là ngành xuất khẩu tại chỗ mà còn là ngành “xuất khẩu vô hình” sản phẩm du lịch. Đó là danh lam thắng cảnh, giá trị di tích lịch sử – văn hoá, tính độc đáo trong truyền thống phong tục tập quán…Sản phẩm này không bị mất đi qua mỗi lần đưa ra thị trường mà uy tín ngày càng tăng khi chất lượng dịch vụ làm thoả mãn nhu cầu của du khách.
Du lịch góp phần kích thích sự tăng trưởng kinh tế ở các vùng sâu, vùng xa, tạo điều kiện phân phối lại thu nhập quốc dân giữa các vùng, phân phối lại thu nhập giữa các thành phần lao động trong xã hội, điều hoà nguồn vốn từ vùng kinh tế phát triển sang vùng kinh tế kém phát triển hơn.
Du lịch góp phần làm tăng nguồn thu ngân sách cho các địa phương thông qua việc thu thuế các cơ sở và hoạt động trên địa bàn. Du lịch phát triển làm cho nhu cầu về hàng hoá dịch vụ tăng lên, góp phần mở ra thị trường tiêu thụ tại chỗ các loại hàng hoá dịch vụ này. Ngoài ra nó còn tạo điều kiện cho du khách tìm hiểu thị trường, tìm kiếm cơ hội đầu tư, kinh doanh các ngành kinh tế khác.
5. Những dịch vụ du lịch phổ biến hiện nay
Các dịch vụ du lịch phổ biến hiện nay bao gồm:
Dịch vụ vận chuyển.
Dịch vụ lưu trú, ăn uống.
Dịch vụ tham quan, giải trí.
Hàng hoá tiêu dùng và đồ lưu niệm.
Các dịch vụ khác phục vụ khách du lịch.
6. Tổng quan về sản phẩm du lịch
6.1 Sản phẩm du lịch là gì?
Theo Luật du lịch năm 2005 của Quốc hội Nước cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam: Sản phẩm du lịch là tập hợp các dịch vụ cần thiết để thoả mãn nhu cầu của khách du lịch trong chuyến đi du lịch.
Sản phẩm du lịch là sự kết hợp những giá trị về vật chất lẫn tinh thần của một quốc gia, một địa phương, một cơ sở nào đó mà du khách đến hưởng thụ và trả tiền. Sản phẩm du lịch bao gồm sản phẩm vật thể và phi vật thể, sản phẩm tự nhiên và nhân tạo.
Quan điểm kinh tế hiện đại cho rằng sản phẩm du lịch bao gồm cả sản phẩm phi hình thể và sản phẩm hình thể vì đây là những sản phẩm phục vụ cho nhu cầu của con người đi du lịch. Cho nên sản phẩm du lịch vô cùng đa dạng phong phú, luôn phát triển đổi mới theo sự phát triển kinh tế xã hội của mỗi quốc gia, lãnh thổ.
6.2 Đặc điểm của sản phẩm du lịch
Đặc trưng sản phẩm du lịch là tính vô hình
Sản phẩm du lịch không cụ thể, không tồn tại dưới dạng vật chất, do đó không thể sờ, không thể thử và không thể thấy sản phẩm kiểm tra chất lượng khi mua.
Không nhận thức một cách tường minh.
Do tính vô hình nên khách du lịch đánh giá chất lượng sản phẩm thông qua địa điểm, người phục vụ, trang thiết bị, thông tin, thương hiệu,…. Trước khi họ cần được cung cấp thông tin đầy đủ, tin cậy, cũng như tư vẫn một cách chuyên nghiệp.
Sản phẩm du lịch thường là một kinh nghiệm nên rất dễ dàng bị sao chép, bắt chước và việc làm khác biệt hóa sản phẩm manh tính cạnh tranh khó khăn hơn kinh doanh hàng hoá.
Đặc trưng tính không tách rời
Quá trình sản xuất phục vụ và quá trình tiêu dùng sản phẩm du lịch diễn ra gần như đồng thời trong cùng một thời gian và không gian. Cung thời gian : thời gian hoạt động của máy bay, tàu , khách sạn, nhà hàng phụ thuộc vào thời gian tiêu dùng của khách, hoạt động phục vụ khách diễn ra một cách liên tục không có ngày nghỉ và giờ nghỉ.
Cùng không gian: khách du lịch phải đến tận nơi để tiêu dùng sản phẩm chứ không thể vận chuyển sản phẩm đến nơi có khách như sản phẩm hàng hóa bình thường. Như vậy sản phẩm du lịch không thể tách rời nguồn gốc tạo ra dịch vụ.
Không chuyển giao sở hữu, chuyển giao sử dụng: Sản phẩm du lịch chỉ thực hiện quyền sử dụng mà không thực hiện quyền sở hữu, bởi khi đã sử dụng thì mất đi giá trị chi trở thành các trải nghiệm của bản thân(yếu tố phi vật chất), không thể sang tên, đổi chủ được.
Đặc trưng tính không đồng nhất
Tính vô hình của sản phẩm du lịch khiến cho các sản phẩm du lịch thường có chất lượng không lặp lại.
Chỉ khi tiêu dùng sản phẩm, khách mời mới cảm nhận được.
Khó lượng hóa.
Đặc trưng tính không dự trữ, tồn kho:
Sản phẩm du lịch không thể lưu kho và cất trữ: để thực hiện được sản phẩm du lịch, công ty lữ hành phải đặt trước các dịch vụ : vận chuyển , ăn uống, ngủ nghỉ, máy bay, tàu, khách sạn…..Không thể để tồn kho một ngày buồng và một chỗ trong nhà hàng vì không tiêu thụ được sẽ mất không một khoản thu nhập.
Cung bị thụ động, khó đáp ứng khi cầu bị biến động.
Việc nghiên cứu vấn đề đa dạng hóa sản phẩm du lịch, trước hết chúng ta cần làm rõ khái niệm sản phẩm du lịch. Sản phẩm du lịch là tổng thể những yếu tố có thể trông thấy hoặc không trông thấy được, làm thỏa mãn nhu cầu cho du khách trong hoạt động du lịch.
Những tài nguyên thiên nhiên (bãi biển, núi rừng, sông suối, khí hậu, không gian thiên nhiên…) cũng như các cơ sở vật chất (khách sạn, nhà hàng, khu vui chơi giải trí…) bản thân chúng không phải là sản phẩm du lịch, nhưng chúng lại trở thành sản phẩm du lịch khi mà các sản phẩm đó được sử dụng phục vụ cho nhu cầu của du khách.
Thông thường người ta phân biệt ba mức độ trong khái niệm của một sản phẩm du lịch.
6.3 Thành phần cơ bản của sản phẩm du lịch
Dịch vụ vận chuyển: Là một phần cơ bản của sản phẩm du lịch. Bao gồm các phương tiện đưa đón khách đến và thăm quan các địa điểm du lịch bằng các phương tiện giao thông hiện nay như : ô tô , xe máy, xe đạp, máy bay, tàu hỏa, thuyền…..
Dịch vụ lưu trú và ăn uống: Đây là thành phần chính cấu thành sản phẩm du lịch. Nó bao gồm các dịch vụ nhắm đáp ứng các nhu cầu của người du lich như : Khách sạn, lều trại, nhà hàng …
Dịch vụ tham quan giải trí: Điểm tham quan, công viên, di tích hội chợ, cảnh quan…
Hàng hóa tiêu dùng và các đồ lưu niệm
Các dịch vụ khác hỗ trợ khách du lịch: thủ tuc hộ chiếu, visa…..
Bài viết trên đã chia sẻ đến bạn: “dịch vụ du lịch là gì?”, “vai trò của dịch vụ du lịch” và “những dịch vụ du lịch phổ biến hiện nay”. Mong rằng bài viết sẽ giúp ích bạn trong quá trình học tập. Nếu còn bất kỳ thắc mắc gì vui lòng liên hệ hotline 0988552424 để được tư vấn và hỗ trợ trực tiếp.
Dịch vụ thương mại là gì, nó có vai trò như thế nào đối với con người cũng như nền kinh tế. Trong bài viết này, Luận Văn 24 sẽ cung cấp cho bạn những thông tin chi tiết nhất về khái niệm, vai trò của dịch vụ thương mại cũng như các loại dịch vụ thương mại một cách rõ ràng nhất.
Dịch vụ thương mại là hoạt động hỗ trợ, thúc đẩy quá trình mua bán sản phẩm trên thị trường. Đây là hoạt động kinh tế cung cấp hoặc bán dịch vụ của các chủ thể khác nhau trên thị trường nhưng gắn liền với hoạt động thương mại khác. Các dịch vụ có thể hỗ trợ thúc đẩy khâu mua, khâu bán, có thể phục vụ bua bán.
Dịch vụ thương mại là các hoạt động gắn liền với hàng hoá và thương mại dịch vụ… Dịch vụ thương mại có thể do tổ chức cá nhân doanh nghiệp trong nước và nước ngoài thực hiện trên thị trường nội địa và nước ngoài. Có thể do chính phủ cung cấp, hay bản thân thực hiện.
Ở khía cạnh vĩ mô thì dịch vụ thương mại là kiểu hoạt động phục vụ cho tổng thể mua bán ở phần vi mô các doanh nghiệp là dịch vụ mang tính động cơ kinh doanh và lợi nhuận do các doanh nghiệp thực hiện.
Như vậy, thực chất dịch vụ thương mại là hoạt động bổ trợ, trợ giúp do hoạt động mua bán của các doanh nghiệp trên thị trường. Dịch vụ thương mại là “phần mềm” làm tăng tính hấp dẫn hay là hiệu quả của các hoạt động chính là mua bán các hàng hoá. Dịch vụ thương mại rất cần thiết và không tách rời hoạt động mua bán. Nó xuất hiện cả trước, trong và sau quá trình mua, bán hàng hoá của các doanh nghiệp.
1.2. Phân biệt dịch vụ thương mại và thương mại dịch vụ
Thương mại dịch vụ là hoạt động trao đổi mua bán hay cung cấp các dịch vụ (sản phẩm vô hình) trên thị trường. Dịch vụ chính là đối tượng của trao đổi mua bán. Các chủ thể tham gia trao đổi đa dạng bao gồm các tổ chức cá nhân, đơn vị, doanh nghiệp trong phạm vi một quốc gia hoặc giữa các bộ phận quốc gia với nhau.
Dịch vụ thương mại đó là hoạt động hỗ trợ cho quá trình trao đổi mua bán nói chung bao gồm cả sản phẩm hữu hình và vô hình. Dịch vụ được coi là phương tiện công cụ cho hoạt động mua bán chứ không phải là đối tượng trao đổi.
Phạm trù dịch vụ thương mại phản ánh hai hoạt động kinh tế gắn liền nhau trong đó, thương mại cũng là một hình thức là một loại dịch vụ. Do vậy dịch vụ thương mại chính là hoạt động của dịch vụ với dịch vụ.
1.3. Vai trò của dịch vụ thương mại
Dịch vụ thương mại của doanh nghiệp có ảnh hưởng trực tiếp đến chất lượng và kết quả cung ứng các yếu tố đầu vào hiệu quả tiêu thụ hay bán sản phẩm đầu ra. Từ đó ảnh hưởng đến chiến lược và hiệu quả kinh doanh của toàn doanh nghiệp. Nó được coi là công cụ cạnh tranh hết sức quan trọng đối với các doanh nghiệp trong môi trường thương mại hiện nay.
Vai trò của dịch vụ thương mại
Dịch vụ thương mại còn có tác động tích cực tới các đối tượng được cung cấp và sử dụng chúng như các đối tác của doanh nghiệp những người tiêu dùng cá nhân, chính phủ… Nhờ đó, các đơn vị bạn hàng, khách hàng cũng như người tiêu dùng có thêm nhiều lợi ích và sự thoả nhãn nhằm thúc đẩy tái sản xuất mở rộng.
Dịch vụ thương mại còn có vai trò thương mại trong phạm vi kinh tế quốc dân. Nó phục vụ hỗ trợ cho các hoạt động thương mại trong toàn bộ nền kinh tế, thúc đẩy cả khu vực sản xuất và dịch vụ phát triển, tạo thêm nhiều việc làm, góp phần chuyển dịch cơ cấu kinh tế, cơ cấu lao động theo yêu cầu của quá trình công nghiệp hóa – hiện đại hóa đất nước…
2. Đặc điểm của dịch vụ thương mại
Dịch vụ thương mại gắn liền với quá trình mua và bán hàng hoá.
Các dịch vụ thương mại xuất hiện trong quá trình lưu thông không tách rời qua quá trình mua bán. Hoạt động thương mại là sự phát triển của nó tiền đề quyết định sự ra đời và phát triển dịch vụ thương mại. Khác với dịch vụ thương mại trong nền kinh tế gồm có rất nhiều loại dịch vụ không gắn liền và phục vụ hoạt động mua bán chẳng hạn một số dịch vụ sản xuất.
Dịch vụ thương mại vừa có tính chất sản xuất, vừa có tính chất phi sản xuất (dịch vụ thuần tuý).
Các dịch vụ có tính chất sản xuất gắn liền với hoạt động có tính chất sản xuất nhưng lại xuất hiện quá trình mua bán. Dịch vụ thương mại góp phần gia tăng giá trị hàng hoá do các ngành sản xuất tạo ra và làm tăng thu nhập quốc dân.
Các dịch vụ không có tính chất sản xuất như giao tiếp với khách hàng, giới thiệu hàng hoá đối với khách hàng, tư vấn tiêu dùng khi bán hàng… các dịch vụ không làm tăng giá trị hàng hoá do các ngành sản xuất tạo ra nhưng lại góp phần gia tăng GDP của khu vực dịch vụ góp phần làm gia tăng GDP trong nền kinh tế quốc dân.
Dịch vụ thương mại là một loại dịch vụ thị trường
Dịch vụ thương mại một mặt gắn liền với quá trình trao đổi mua bán của các chủ thể tham gia thị trường được hình thành thông qua quan hệ cung cầu và bị chi phối sự vận động tự nhiên của thị trường. Dịch vụ thương mại do thành phần kinh tế, chủ thể kinh doanh các tổ chức cá nhân trong và ngoài nước tham gia thực hiện trên thị trường.
Bên cạnh đó, một số dịch vụ thương mại của doanh nghiệp được chính phủ hỗ trợ ban đầu như tìm kiếm thị trường xúc tiến xuất khẩu, tổ chức đoàn đi khảo sát thị trường nước ngoài… và các hiệp hội nghề nghiệp tổ chức phi chính phủ trợ giúp thông tin, hội nghị, hội thảo…
Dịch vụ thương mại gắn liền với quá trình trao đổi mua bán
3. Phân loại dịch vụ thương mại
3.1. Phân loại theo tính chất của dịch vụ
Dịch vụ có tính chất sản xuất: Loại dịch vụ này làm tăng giá trị hàng hoá, trực tiếp tham gia góp phần vào thu nhập quốc dân.
Vận chuyển hàng hoá cho khách
Chuẩn bị hàng trước khi bán (như phân loại bao gói, chỉnh lý, pha cắt, chia nhỏ, pha chế, lắp ráp, sản phẩm…)
Dịch vụ kỹ thuật lắp ráp, bảo hành, bảo dưỡng, sửa chữa khi sử dụng hoặc cung cấp dịch vụ cho khách hàng.
Dịch vụ cho thuê thiết bị, phương tiện (nếu có)
Dịch vụ không có tính sản xuất
Doanh nghiệp giới thiệu hàng hoá để bán trực tiếp hàng hoá đó cho khách hàng thông tin về sản phẩm, về tổ chức sản xuất về phân phối cũng như năng lực loại dịch vụ này có ý nghĩa rất quan trọng.
Kỹ thuật và nghệ thuật truyền thông bằng các phương tiện khác nhau trong không gian theo thời gian hàng hoá về dịch vụ về tổ chức quản lý và các nguồn lực cho khách hàng. Các phương tiện quảng cáo rất đa dạng và phong phú (như báo, Cataloge, các ấn phẩm đài, vô tuyến, Internet, áp phích…) hình thức thể hiện quảng cáo lời viết chữ, nói, âm thanh, ánh sắc hình ảnh màu sắc…
Triển lãm hội chợ thương mại: vừa giới thiệu quảng cáo, vừa bán hàng và nghiên cứu thị trường, tổ chức hội nghị, hội thảo ký kết các hợp đồng các dịch vụ thuộc loại này không trực tiếp tạo ra thu nhập quốc dân nhưng lại góp phần gia tăng thu nhập quốc dân trong sản xuất
3.2. Phân loại dịch vụ thương mại trong giai đoạn
Dịch vụ trong giai đoạn mua
Thực chất đây là dịch vụ trong khâu cung ứng các yếu tố đầu vào của doanh nghiệp. Tuỳ từng loại “đầu vào” khác nhau của sản xuất kinh doanh, doanh nghiệp có thể và cần thiết nghiên cứu lựa chọn các dịch vụ thương mại sau đây.
Dịch vụ thông tin về nhà cung cấp. Các giao dịch đàm phán mua hàng dịch vụ pháp lý về đơn hàng, dịch vụ kiểm định hàng hoá, dịch vụ hải quan, bảo hiểm, vận tải, kho hàng, thanh toán, hội nghị cung ứng…
Dịch vụ trong giai đoạn bán
Chuẩn bị hàng để bán, chuyên chở hàng hoá đến khu vực bán hàng trưng bày, quảng cáo hàng hoá tại nơi bán, các dịch vụ hải quan giám định chất lượng và xuất xứ hàng hoá…
Giới thiệu hàng hoá cho khách và hướng dẫn chọn mua, hướng dẫn sử dụng, vận chuyển bốc dỡ hàng hoá theo yêu cầu của khách trả lời các yêu cầu của khách hàng, kiểm tra vận tải và dịch vụ vận chuyển giao nhận…
Lắp đặt bảo hành, bảo dưỡng thay thế, sửa chữa, thông tin và đáp ứng các khuyến nghị từ khách hàng, tổ chức các hội nghị của khách hàng, các dịch vụ thanh toán.
Dịch vụ giao hàng, vận chuyển trong giai đoạn bán
3.3. Phân loại dịch vụ theo hành vi thương mại
Dịch vụ thương mại bao gồm một số loại cơ bản sau đây:
Môi giới thương mại
Đó là dịch vụ thông qua người trung gian, người môi giới để thực hiện mua bán sản phẩm. Người môi giới là thương nhân, một mặt làm trung gian cho các bên trao đổi mua bán hàng hoá. Dịch vụ này có ý nghĩa quan trọng trong việc giúp doanh nghiệp tìm kiếm khách hàng, mở rộng kinh doanh và nâng cao hiệu quả hoạt động. Quyền và nghĩa vụ của người giới thiệu thực hiện theo quy định trong luật thương mại.
Dịch vụ giao nhận hàng hoá
Dịch vụ người làm công việc giao nhận hàng hoá nhận hàng từ người gửi, tổ chức vận chuyển, lưu kho, lưu bãi, làm các thủ tục giấy tờ và các dịch vụ khác có liên quan phạm vi các dịch vụ giao nhận hàng hoá, người giao nhận hàng hoá là thay mặt người gửi hàng làm nảy sinh dịch vụ trong quá trình chuyên chở hàng hoá …
Dịch vụ giám định hàng hoá
Là dịch vụ do một tổ chức giám định độc lập thực hiện để xác định tình trạng thực tế của hàng hoá theo yêu cầu của cá nhân cơ quan tổ chức và doanh nghiệp. Giám định về số lượng, chất lượng quy cách bao bì, giá trị hàng hoá các tổn thất, sự an toàn, vệ sinh các yêu cầu khác.
Hoạt động giám định phải đảm bảo các nguyên tắc hoạt động khách quan khoa học và chính xác. Kết quả giám định là chứng thư giám định văn bản pháp lý để đảm bảo lợi ích các bên tham gia hợp đồng và giải quyết các tranh chấp xảy ra
Quảng cáo thương mại
Là dịch vụ nhằm cung cấp thông tin cho khách hàng về chủng loại hàng hoá, quy cách chất lượng, giá cả phương thức bán các dịch vụ khách hàng của doanh nghiệp. Cung cấp thông tin đầy đủ đồng bộ ngắn gọn, hấp dẫn khách hàng trung thực không làm tổn hại lợi ích doanh nghiệp khác và môi trường lựa chọn hình thức, phương tiện thích hợp và đảm bảo hiệu quả.
Hỗ trợ triển lãm thương mại.
Đây là hoạt động xúc tiến của thương mại tập trung trong một thời gian địa điểm nhất định. Có nhiều loại hội chợ, triển lãm thương mại khác nhau như hội chợ triển lãm tổng hợp, chuyên ngành, quy mô vùng, quốc gia quốc tế.
Xúc tiến thương mại thông qua hội trợ triển lãm
Hiện tại, Luận Văn 24 đang cung cấp dịch vụ viết tiểu luận thuê, luận văn ngành kinh tế, tài chính. Nếu bạn bận rộn không có thời gian để hoàn thành hay gặp bất cứ khó khăn nào trong việc hoàn thành bài luận, hãy để chúng tôi đồng hành cùng bạn giải quyết mọi vấn đề. Với kinh nghiệm và đội ngũ trình độ cao, chúng tôi cam kết sẽ mang đến cho bạn nhiều lợi ích nhất.
4. Các loại dịch vụ thương mại chủ yếu ở Việt Nam
Dịch vụ thông tin, nghiên cứu thị trường và xúc tiến thương mại
Dịch vụ này cung cấp thông tin, tài liệu cần thiết về thị trường đầu vào đầu ra cho các doanh nghiệp các nhà kinh doanh thông tin và các đối tác kinh doanh. Tư vấn, nghiên cứu các yếu tố liên quan đến cơ cấu và hướng phát triển thị trường, chiến lược thị trường và hội nhập
Thông tin cho khách hàng biết về doanh nghiệp và sản phẩm cũng như công bố tài liệu, thông tin cần thiết, trong các cuộc hội nghị, hội thảo, hội chợ triển lãm. Các loại dịch vụ trên được thực hiện thông qua các cơ quan chuyên ngành của chính phủ của bộ, ngành hoặc qua tổ chức phi chính phủ.
Xu hướng: Các dịch vụ thông tin, tiếp thị và xúc tiến thương mại phát triển nhanh và đa dạng do yêu cầu cạnh tranh và hội nhập ngày càng cao. Được hỗ trợ kỹ thuật máy tính và mạng Internet đảm bảo yêu cầu về dịch vụ nhanh chóng, thuận tiện chính xác và có hệ thống. Đây là loại dịch vụ thuộc mối quan tâm hàng đầu của cả doanh nghiệp và chính phủ.
Dịch vụ tài chính và bảo hiểm
Dịch vụ tài chính và bảo hiểm là các loại dịch vụ giúp cho thực hiện các giao dịch tài chính trợ giúp vốn, thanh toán trong nước và quốc tế cũng như tài trợ rủi ro cho hoạt động thương mại của các doanh nghiệp cung cấp các nguồn tài trợ tài chính ngắn và dài hạn phương thức tín dụng và chuyển tiền cho doanh nghiệp cung cấp các dịch vụ thanh toán thuận tiện, hiệu quả cung cấp dịch vụ bảo hiểm về hàng hoá về phương tiện vận tải trách nhiệm các dịch vụ trên chủ yếu do doanh nghiệp thực hiện.
Xu hướng: Các dịch vụ tài chính, tài trợ cho hoạt động đầu tư bảo hiểm có xu hướng phát triển trong thời kỳ hội nhập quốc tế thương mại, đẩy mạnh tốc độ để thực hiện công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước. Phát triển theo hướng tạo thuận lợi, hỗ trợ có trọng tâm, trọng điểm và có thời hạn cho các hoạt động sản xuất kinh doanh đặc biệt các hàng hoá xuất nhập khẩu góp phần nâng cao các khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp của ngành quốc gia.
Dịch vụ kiểm định và chứng nhận hàng hóa
Là loại dịch vụ mang tính chất kiểm tra của các cơ quan Nhà nước và các tổ chức giám định độc lập, nhằm cấp giấy chứng nhận hàng hoá và xuất xứ hàng hoá cho các chủ thể sản xuất kinh doanh. Giám định nhằm cung cấp các báo cáo, biên bản giám định theo yêu cầu của các bên mua, bên bán về phẩm chất, số lượng, khối lượng chất lượng bao bì tổn thất hàng hoá và hình thức giám định khác.
Hoạt động bao bì tổn thất hàng hoá và hình thức giám định khác. hoạt động giám định có thể do cơ quan chính phủ tổ chức giám định độc lập trong nước hoặc quốc tế thực hiện. Nó có vai trò rất quan trọng đối với doanh nghiệp, người tiêu dùng và cả phạm vi quốc gia đặc biệt trong lĩnh vực xuất nhập khẩu.
Dịch vụ kiểm định và chứng nhận hàng hóa
Dịch vụ kho vận và giao nhận hàng hoá
Vận tải hàng hoá, lưu kho lưu, lưu bãi và giao nhận hàng hoá các loại hàng hoá này thuộc đối tượng giao nhận, vận chuyển hàng thương mại (hàng hoá lưu thông trên thị trường nội địa, hàng hoá xuất nhập khẩu, hàng thông thường, hàng triển lãm).
Giao nhận vận chuyển có phân biệt đối với thương mại nội địa và quốc tế có thể thực hiện trực tiếp bởi các Công ty kho vận và giao nhận hàng hoá hoặc thông qua đại lý giao nhận. Đóng gói, bốc xếp, bảo quản, lưu kho, gom hàng của tổ chức giao nhận cũng thuộc loại dịch vụ giao nhận và kho vận. Ngoài ra người cung cấp dịch vụ này còn thay mặt chủ hàng làm các thủ tục khác liên quan đến giao nhận hàng hoá
Xu hướng: Các dịch vụ giao nhận, kho vận ngoại thương sẽ phát triển và cạnh tranh gay gắt theo chiến lược phát triển thương mại hướng về xuất khẩu vì các điều kiện giao hàng trong thương mại quốc tế trở nên thành các chỉ tiêu đánh giá năng lực cạnh tranh của các doanh nghiệp về lâu dài sẽ chuyển sang phương thức mua FOB bán CIF và nâng cao năng lực cạnh tranh trong vận tải hàng hoá xuất khẩu của Việt Nam.
Dịch vụ đào tạo và tư vấn pháp lý và quản lý
Dịch vụ đào tạo và cung cấp các kiến thức, nâng cao kỹ năng kinh doanh và quản lý hoạt động thương mại, đặc biệt trong thương mại quốc tế. Nó bao gồm các hình thức đào tạo đa dạng, tập trung, tại chỗ, tại chức, từ xa, bồi dưỡng ngắn hạn, đào tạo dài hạn… Doanh nghiệp có thể tự làm hoặc đi thuê.
Tư vấn pháp luật về thuế, ngân hàng tài chính bảo hiểm hải quan sở hữu, trí tuệ mua bán… cho các doanh nghiệp. Tư vấn pháp luật pháp lý của doanh nghiệp trước toà án, trọng tài kinh tế … Tư vấn quản lý như lập kế hoạch kinh doanh, chính sách mô hình tổ chức và sử dụng nguồn nhân lực, công tác kế toán, trợ giúp kỹ năng nhằm nâng cao hiệu quả quản trị doanh nghiệp và quản trị tác nghiệp ở các bộ phận chức năng trong tổ chức doanh nghiệp.
Xu hướng:Dịch vụ đào tạo sẽ phát triển và mang tính cạnh tranh quốc tế, dịch vụ tư vấn pháp lý đặc biệt cần thiết đối với các doanh nghiệp khi thâm nhập và mở rộng thị trường nước ngoài. Dịch vụ tư vấn về quản lý đang trở thành mối quan tâm của nhiều doanh nghiệp, khi điều kiện thu nhập hay kinh phí cho dịch vụ của Công ty ngày càng tăng lên.
Trên đây là bài viết tham khảo cung cấp kiến thức đầy đủ để bạn hiểu được thêm về các loại dịch vụ thương mại, đặc điểm và phân loại. Ngoài ra còn có nội dung các dịch vụ thương mại phổ biến ở Việt Nam hiện nay. Trong quá trình tìm hiểu, nếu có bất kì ý kiến thắc mắc xin liên hệ qua hotline 0988 55 2424 của Luận Văn 24 để được đội ngũ chuyên gia tư vấn giúp đỡ.
Chất lượng dịch vụ là một phạm trù rộng và có rất nhiều định nghĩa khác nhau tùy thuộc vào từng loại dịch vụ, nhưng bản chất của chất lượng dịch vụ nói chung được xem là những gì mà khách hàng cảm nhận được. Cùng Luận Văn 24 giải đáp thắc mắc chất lượng dịch vụ là gì và chất lượng dịch vụ trong du lịch.
“Dịch vụ là một hoạt động hoặc là một chuỗi hoạt động ít nhiều có tính chất vô hình thường, nhưng không cần thiết, diễn ra trong các mối tương tác giữa khách hàng và nhân viên dịch vụ và/hoặc các nguồn lực vật chất hoặc hàng hóa và/hoặc các hệ thống cung ứng dịch vụ được cung cấp như là các giải pháp giải quyết các vấn đề của khách hàng” (Gronroos, 1990, dẫn theo Paul Lawrence Miner, 1998).
“Dịch vụ là một quá trình gồm các hoạt động hậu đài và các hoạt động phía trước, nơi mà khách hàng và nhà cung cấp dịch vụ tương tác với nhau. Mục đích của việc tương tác này là nhằm thỏa mãn nhu cầu và mong muốn của khách hàng theo cách khách hàng mong đợi, cũng như tạo ra giá trị cho khách hàng” (Bùi Nguyên Hùng, 2004).
Đặc điểm của dịch vụ
Dịch vụ có một số đặc điểm, nhưng ba đặc điểm thường được nêu trong các tài liệu nghiên cứu gồm: tính vô hình, dị biệt và không thể tách rời.
Tính vô hình (Intangibility)
Shostack (1977, dẫn theo Paul Lawrence Miner, 1998) cho rằng không có sự vật/việc đơn thuần là sản phẩm hay dịch vụ và ông cho rằng có một sự diễn tiến liên tục giữa sản phẩm hữu hình và dịch vụ vô hình.
A.Parasuraman, Valarie A. Zeithaml and Leonard L. Berry (1985) cũng bình luận rằng tính vô hình có nghĩa là “Hầu hết các dịch vụ không thể đo, đếm, thống kê, thử nghiệm và chứng nhận trước khi cung cấp để đảm bảo chất lượng dịch vụ”.
Tính dị biệt (Heterogeneity)
Dịch vụ được thực hiện sẽ khác nhau trong mỗi loại hình khác nhau, như dịch vụ cung cấp trong lĩnh vực du lịch khác trong lĩnh vực thư viện.
Tính không thể tách rời (Inseparability)
Sản xuất và tiêu dùng dịch vụ diễn ra đồng thời và sự tương tác giữa bên cung cấp và bên nhận dịch vụ có thể ảnh hưởng đến chất lượng dịch vụ
2. Khái niệm chất lượng dịch vụ là gì?
Chất lượng dịch vụ là một phạm trù rộng và có rất nhiều định nghĩa khác nhau tùy thuộc vào từng loại dịch vụ, nhưng bản chất của chất lượng dịch vụ nói chung được xem là những gì mà khách hàng cảm nhận được. Mỗi khách hàng có nhận thức và nhu cầu cá nhân khác nhau nên cảm nhận về chất lượng dịch vụ cũng khác nhau.
Theo Joseph Juran & Frank Gryna “Chất lượng là sự phù hợp đối với nhu cầu”.
Theo Armand Feigenbaum (1945) “Chất lượng là quyết định của khách hàng dựa trên kinh nghiệm thực tế đối với sản phẩm hoặc dịch vụ, được đo lường dựa trên những yêu cầu của khách hàng- những yêu cầu này có thể được nêu ra hoặc không nêu ra, được ý thức hoặc đơn giản chỉ là cảm nhận, hoàn toàn chủ quan hoặc mang tính chuyên môn – và luôn đại diện cho mục tiêu động trong một thị trường cạnh tranh”.
Theo American Society for Quality “Chất lượng thể hiện sự vượt trội của hàng hóa và dịch vụ, đặc biệt đạt đến mức độ mà người ta có thể thỏa mãn mọi nhu cầu và làm hài lòng khách hàng”.
Theo quan điểm của Gronroos (1984) cho rằng, chất lượng dịch vụ được đánh giá trên hai khía cạnh: chất lượng kỹ thuật và chất lưỡng kỹ năng. Chất lượng kỹ thuật liên quan đến những gì được phục vụ còn chất lượng chức năng nói lên chúng được phục vụ như thế nào.
Dịch vụ cung cấp tốt hay không là tùy thuộc vào người cung cấp dịch vụ qua thái độ, quan hệ bên trong công ty, hành vi, tinh thần phục vụ, sự biểu hiện bên ngoài, tiếp cận và tiếp xúc khách hàng. Muốn tạo dịch vụ tốt, phải có sự giao thoa giữa chất lượng kỹ thuật và chất lượng chức năng.
Nếu như bạn gặp khó khăn trong quá trình hoàn thành bài luận văn, hãy liên hệ Dịch vụ viết thuê luận văn của Luận Văn 24 – Chúng tôi sẽ giải quyết vấn đề của bạn nhanh chóng và hiệu quả nhất.
3. Đặc điểm của chất lượng dịch vụ là gì
Mặc dù có nhiều khái niệm chất lượng dịch vụ là gì nhưng xét một cách tổng thể, chất lượng dịch vụ bao gồm những đặc điểm sau:
Một là, chất lượng dịch vụ du lịch chỉ được đánh giá một cách chính xác thông qua khách du lịch sau khi họ sử dụng dịch vụ.
Hai là, chất lượng dịch vụ du lịch phụ thuộc vào chất lượng các yếu tố vật chất tạo nên dịch vụ.
Mặc dù 80-90% giá trị sản phẩm du lịch là dịch vụ nhưng yếu tố vật chất vẫn đóng một vai trò cực kỳ quan trọng trong việc đánh giá chất lượng dịch vụ du lịch. Không phải ở bất cứ nơi đâu, trong điều kiện nào dịch vụ du lịch cũng được tạo ra. Dịch vụ du lịch có chất lượng chỉ được tạo ra trong những cơ sở vật chất có chất lượng phù hợp.
Ba là, chất lượng dịch vụ du lịch phụ thuộc rất lớn vào đội ngũ nhân viên cung cấp dịch vụ.
Do những đặc tính của dịch vụ du lịch (tính vô hình, tính đồng thời của sản xuất và tiêu dùng) mà sự thoả mãn của khách du lịch tuỳ thuộc phần lớn vào trình độ và khả năng của đội ngũ nhân viên – những người trực tiếp tham gia vào quá trình cung ứng dịch vụ và tạo ra mối quan hệ với khách hàng.
Bốn là, chất lượng dịch vụ du lịch đòi hỏi tính nhất quán cao về thời gian, địa điểm, thái độ phục vụ của nhân viên tiếp xúc trực tiếp với khách hàng trong tất cả các giai đoạn của toàn bộ quá trình cung cấp dịch vụ
Khi khách hàng đánh giá chất lượng dịch vụ du lịch, họ thường không đánh giá trong từng dịch vụ riêng lẻ mà thường xét đoán cả một quá trình cung ứng dịch vụ. Để đảm bảo chất lượng dịch vụ thì các khâu trong quá trình phải có sự nhất quán và ăn khớp với nhau. Ngoài ra, cũng cần phải quan tâm, chăm sóc khách du lịch mọi lúc mọi nơi trong quá trình phục vụ. [19, tr 157-158].
4. Chất lượng dịch vụ du lịch là gì?
Chất lượng dịch vụ du lịch là mức phù hợp của dịch vụ của các nhà cung cấp du lịch thỏa mãn các yêu cầu của khách du lịch. Nó chính là sự nhận thức của khách hàng về chất lượng dịch vụ của một hãng cụ thể nào đó dựa trên sự so sánh thành tích của hãng đó trong việc cung cấp dịch vụ với sự mong đợi chung của khách hàng đối với tất cả các hãng khác trong cùng ngành dịch vụ lữ hành.
Chất lượng dịch vụ trong kinh doanh du lịch được đo lường bởi sự mong đợi và nhận định của khách hàng với năm yếu tố đánh giá:
Đáng tin cậy: Khả năng thực hiện dịch vụ chắc chắn, đáng tin và chính xác như đã hứa của tổ chức với khách hàng.
Sự nhiệt tình: Ước muốn của nhân viên được sẵn sàng phục vụ khách hàng và cung cấp dịch vụ nhanh chóng.
Sự đảm bảo: Sự hiểu biết đúng đắn, tay nghề thành thạo và thái độ lịch sự cùng với khả năng thể hiện sự chân thực và tự tin.
Lòng thông cảm: mức độ lo lắng, chăm sóc quan tâm từng cá nhân và đề nghị của họ mà tổ chức du lịch dành cho khách hàng.
Yếu tố hữu hình: Các phương tiện vật chất, trang thiết bị, tài liệu quảng cáo, … và bề ngoài của nhân viên của tổ chức du lịch.
Như vậy có thể kết luận chất lượng dịch vụ nói chung và trong kinh doanh khách sạn nhà hàng nói riêng chính là: Sự thỏa mãn của khách hàng, khách hàng thỏa mãn thì có thể coi dịch vụ đó có chất lượng tốt, tùy theo mức độ thỏa mãn của khách hàng mà chúng ta có thể đánh giá chất lượng dịch vụ tốt đến đâu?
Bài viết này đã giúp bạn trả lời 3 câu hỏi: “chất lượng dịch vụ là gì?”. “đặc điểm của chất lượng dịch vụ” và “chất lượng dịch vụ du lịch là gì?”. Hy vọng có thể trở thành nguồn tài liệu hữu ích cho bạn! Nếu còn bất kỳ thắc mắc gì vui lòng liên hệ hotline 0988 55 2424 để được tư vấn và hỗ trợ trực tiếp.
Trong những năm gần đây, du lịch Việt Nam ngày càng phát triển và thu hút lượng lớn khách du lịch trong và ngoài nước. Từ đó các loại hình du lịch ở Việt Nam cũng trở nên đa dạng và phong phú, dựa vào nhiều tiêu chí mà có các hình thức du lịch khác nhau. Hãy cùng Luận Văn 24 tìm hiểu về các loại hình du lịch trong bài chia sẻ dưới đây nhé.
Các loại hình du lịch phổ biến tại Việt Nam
1. Một số khái niệm liên quan đến du lịch
1.1. Khái niệm du lịch là gì?
Theo định nghĩa của Luật du lịch Việt Nam thì: Du lịch là các hoạt động có liên quan đến chuyến đi của con người (cá nhân hoặc tập thể) đến những nơi không thuộc khu vực mình cư trú thường xuyên không quá 1 năm liên tục nhằm đáp ứng mục đích tham quan, vui chơi, giải trí, nghỉ dưỡng, kháp phá tài nguyên du lịch hoặc kết hợp mục đích hợp pháp khác.
1.2. Nhu cầu du lịch là gì?
Nhu cầu du lịch là những mong muốn của con người được đến một nơi khác so với nơi cư trú thường xuyên của một người để tận hưởng, vui chơi, giải trí, trải nghiệm những cảm giác mới lạ ở những địa điểm du lịch nhằm mục đíc tận hưởng, giải tỏa áp lực cuộc sống, hồi phục sức khỏe và tinh thần.
Nhu cầu du lịch không phải nhu cầu thiết yếu của con người, nó chỉ được thực hiện khi bạn có đầy đủ những điều kiện về sức khỏe, kinh tế, xã hội…
1.3. Tham quan du lịch là gì?
Tham quan du lịch là một trong những hoạt động của chuyến du lịch nhằm đáp ứng nhu cầu tìm hiểu, học tập, nghiên cứu theo một ý nghĩa, mục đích nhất định đồng thời đáp ứng nhu cầu thưởng ngọn và tìm hiểu về những vùng đất mới.
Chuyến tham quan thường tập trung vào các địa điểm di tích lịch sử văn hóa, danh lam thắng cảnh,… dưới sự hướng dẫn của những người có kiến thức, nghiệp vụ, trình độ chuyên môn qua việc quan sát, lắng nghe trực tiếp.
1.4. Sản phẩm du lịch là gì?
Điều 4 chương 1, luật du lịch Việt Nam khẳng định : “Sản phẩm du lịch là một tổng thể phức tạp bao gồm nhiều thành phần không đồng nhất cấu tạo thành. Đó là tài nguyên tự nhiên, tài nguyên nhân văn, cơ sở vật chất kỹ thuật, cơ sở hạ tầng du lịch và đội ngũ cán bộ nhân viên du lịch”.
Điểm chung nhất mà sản phẩm du lịch mang lại cho du khách chính là sự hài lòng. Nhưng đó không phải là sự hài lòng như khi ta mua sắm một hàng hóa vật chất mà ở đây sự hài lòng là do được trải qua một khoảng thời gian thú vị, tồn tại trong ký ức của du khách khi kết thúc chuyến đi du lịch.
Để thu hút và lưu giữ khách du lịch, chúng ta phải tổ chức các dịch vụ ở những nơi có khí hậu thuận lợi, có vẻ đẹp tự nhiên độc đáo và đồng thời cả những nơi có các di tích lịch sử, các viện bảo tàng…
Mục đích chuyến đi là động lực thúc đẩy hoạt động nhằm thỏa mãn nhu cầu du lịch của con người. Theo tiến sĩ Hassel có 10 loại hình du lịch phổ biến theo cách phân chia này:
Du lịch thiên nhiên
Loại hình du lịch này hấp dẫn những người thích tận hưởng bầu không khí ngoài trời, thích thưởng thức những phong cảnh đẹp và đời sống thực vật hoang dã. Những người đi du lịch trong nhóm này muốn tìm đến vẻ đẹp và đời sống hoang sơ của vườn quốc gia Cúc Phương, phong cảnh hùng vĩ nhưng tĩnh lặng của Ngũ Hành Sơn.
Du lịch văn hóa
Loại hình này thu hút những người mà mối quan tâm chủ yếu của họ là truyền thống lịch sử, phong tục tập quán, nền văn hóa nghệ thuật… của điểm đến. Những du khách này sẽ viếng thăm các viện bảo tàng, nghỉ tại các quán trọ đồng quê, tham dự các lễ hội truyền thống và các sinh hoạt văn hóa nghệ thuật dân gian của địa phương.
Du lịch xã hội
Hấp dẫn những người mà đối với họ sự tiếp xúc, giao lưu với những người khác là quan trọng nhất. Đối với một số người khi được đồng hành với các thành viên của một nhóm xã hội trong các tour du lịch cũng làm họ thõa mãn, hài lòng. Một số người khác tìm kiếm cơ hội được hòa nhập với cư dân bản xứ ở điểm đến. Thăm gia đình cũng có thể được bao hàm trong loại này.
Du lịch hoạt động
Loại hình du lịch này thu hút khách bằng một hoạt động xác định trước và thách thức phải hoàn thành trong chuyến đi, trong kỳ nghỉ của họ. Một số du khách muốn thực hành và hoàn thiện vốn ngoại ngữ của mình khi đi du lịch nước ngoài. Một số người khác muốn thám hiểm, khám phá cấu tạo địa chất của một khu vực nhất định.
Du lịch giải trí
Loại hình này nảy sinh từ nhu cầu nghỉ ngơi, thư giãn để phục hồi thể lực và tinh thần cho con người. Loại hình du lịch này thu hút những người mà lý do chủ yếu của họ đối với chuyến đi là sự hưởng thụ và tận hưởng kỳ nghỉ. Họ thường đến những bờ biển đẹp, tắm dưới ánh nắng mặt trời, tham gia vào các hoạt động như cắm trại, các trò chơi có tổ chức và học các kỹ năng mới.
Du lịch thể thao
Thu hút những người ham mê thể thao để nâng cao thể chất, sức khỏe. Tham gia chơi các môn thể thao như quần vợt, đánh gôn, bóng chuyền bãi biển, lướt són, trượt tuyết, đi xe đạp đường trường…là những ví dụ cho các hoạt động phù hợp với loại hình du lịch này.
Phân loại căn cứ theo mục đích chuyến đi
Du lịch chuyên đề
Loại hình du lịch này liên quan đến một nhóm nhỏ, ít người đi du lịch với cùng mục đích chung hoặc mối quan tâm đặc biệt nào đó chỉ đối với riêng họ. Ví dụ như: những người kinh doanh xe ô tô đến thăm một nhà máy sản xuất ở nước ngoài hoặc một nhóm sinh viên đi một tour thực tập, nghiên cứu.
Du lịch tôn giáo
Nhằm thỏa mãn nhu cầu tín ngưỡng đặc biệt của những người theo các đạo phái khác nhau.Nó bộc lộ trong các cuộc hành hương đến những nơi có ý nghĩa tâm linh hay những địa điểm tôn giáo được tôn kính. Đây là loại hình du lịch lâu đời nhất và vẫn còn phổ biến đến ngay nay.
Du lịch sức khỏe
Loại hình du lịch sức khỏe hấp dẫn những người tìm kiếm cơ hội cải thiện điều kiện thể chất của mình. Các khu an dưỡng, nghỉ mát ở vùng núi cao hoặc ven biển, các điểm có suối nước nóng hoặc nước khoáng là những nơi điển hình tạo ra loại du lịch này.
Du lịch dân tộc học
Loại du lịch này đặc trưng hóa cho những người quay trở về quê cha đất tổ tìm hiểu lịch sử, nguồn gốc của quê hương, dòng doi gia đình hoặc tìm kiếm khôi phục các truyền thống văn hóa bản địa.
Để đơn giản hóa và hệ thống hóa, có thể phân các loại hình du lịch theo mục đích chuyến đi làm 2 nhóm chính:
Nhóm có mục đích du lịch thuần túy: bao gồm các loại hình du lịch tham quan, giải trí, nghỉ dưỡng, thể thao( chơi, tập luyện), khám phá.
Nhóm có mục đích kết hợp du lịch: bao gồm các loại hình du lịch tín ngưỡng, học tập nghiên cứu, hội họp, thể thao( thi đấu, cổ vũ), kinh doanh công tác, chữa bệnh, thăm thân…
Mặc dù, mỗi loại hình du lịch có đặc trưng riêng, nhưng trong thực tế thường không thể hiện nguyên một dạng mà có thể kết hợp một vài loại hình du lịch với nhau trong cùng một chuyến đi. Ví dụ như du lịch nghỉ ngơi với du lịch văn hóa, học tập; du lịch giải trí nghỉ ngơi vơi du lịch thăm hỏi..v.v…
Nếu như bạn đang gặp khó khăn trong quá trình hoàn thành bài luận văn về các đề tài kinh tế, hãy liên hệ Dịch vụ tư vấn và hỗ trợ viết thuê luận văn – Chúng tôi sẽ giải quyết vấn đề của bạn nhanh chóng và hiệu quả nhất.
Loại hình du lịch dân tộc học
2.2. Căn cứ vào phạm vi lãnh thổ
Có thể phân chia thành các loại hình du lịch sau:
Du lịch quốc tế: liên quan đến các chuyến đi vượt qua khỏi phạm vi lãnh thổ( biên giới) quốc gia của khách du lịch. Chính vì vậy, du khách thường gặp phải ba cản trở chính trong chuyến đi đó là: ngôn ngữ, tiền tệ, và thủ tục đi lại. Cùng với dòng du khách, hình thức du lịch này tạo ra dòng chảy ngoại tệ giữa các quốc gia và do đó ảnh hưởng đến cán cân thanh toán quốc gia.
Loại hình du lịch này được phân chia thành hai loại nhỏ:
Du lịch quốc tế đến: là chuyến viếng thăm của những người từ các quốc gia khác.
Du lịch ra nước ngoài: là chuyến đi của cư dân trong nước đến một nước khác.
Du lịch trong nước: là những chuyến đi của cư dân chỉ trong phạm vi quốc gia của họ.
Du lịch nội địa: bao gồm du lịch trong nước và du lịch quốc tế đến.
Du lịch quốc gia: bao gồm du lịch nội địa và du lịch ra nước ngoài.
2.3. Căn cứ vào sự tương tác của du khách đối với điểm đến du lịch
Du lịch thám hiểm
Bao gồm các nhà nghiên cứu, học giả, người leo núi và những nhà thám hiểm đi theo các nhóm với số lượng nhỏ. Họ sử dụng đồ dùng cá nhân, thức ăn chuẩn bị trước và hầu như không tiêu thụ các sản phẩm,dịch vụ du lịch. Chính vì vậy, loại hình du lịch này ảnh hưởng không đáng kể tới kinh tế, văn hóa-xã hội và môi trường của điểm đến.
Du lịch thượng lưu
Chuyến đi của tần lớp thượng lưu đến những nơi độc đáo để giải trí và tìm kiếm sự mới lạ. Bên cạnh việc sử dụng các tiện nghi giành cho khách du lịch thì họ cũng dễ dàng thích nghi với các điều kiện địa phương. Số lượng khách của nhóm này tương đối ít, có nhu cầu về những sản phẩm du lịch chất lượng cao và không đàn hồi theo giá cả. Chuyến du lịch của họ có thể dẫn tới những hoạt động đầu tư sau này có lợi cho diểm đến.
Hình ảnh du lịch thượng lưu
Du lịch khác thường
Khách du lịch thích đến những nơi xa xôi, hoang dã, quan tâm đến những nền văn hóa sơ khai hoặc tìm kiếm những phần bổ sung thêm( không có) trong một tour du lịch tiêu chuẩn. Họ thích nghi tốt và chấp nhận các điều kiện về sản phẩm, dịch vụ du lịch do địa phương cung cấp.
Du lịch đại chúng tiền khởi
Một dòng khách du lịch ổn định đi theo một nhóm nhỏ hoặc cá nhân đến các nơi an toàn, phổ biến, khí hậu phù hợp. Họ tìm kiếm các tiện nghi và dịch vụ tiêu chuẩn nhưng cũng dễ dàng chấp nhận các điều kiện chưa đảm bảo tiêu chuẩn của địa phương. Đây là sự mở đầ và phát sinh hình thức du lịch đại chúng( đại quy mô) sau này.
Du lịch đại chúng
Một số lượng lớn khách du lịch( thường từ châu Âu hoặc Bắc Mỹ) tạo thành dòng chảy liên tục tràn ngập các khu nghỉ mát nổi tiếng ở châu Âu hoặc hawaii vào các mùa du lịch. Khách du lịch thường thuộc tầng lớp trung lưu và họ mong muốn các tiện nghi đạt tiêu chuẩn, nhân viên phục vụ được đào tạo và hướng dẫn viên du lịch biết nhiều ngoại ngữ.
Du lịch thuê bao
Đây là loại hình dub lịch phát triển rộng rãi, thị trương phát triển đến các tầng lớp có nhu cầu trung bình và thấp nên có dung lượng lớn. Với số lượng lớn, dòng khách ồ ạt, chi tiêu của du khách tạo ra nguồn thu nhập lớn đối với cơ sở kinh doanh và khu vực điểm đến.
2.4. Các cách phân loại khác
Căn cứ vào đặc điểm địa lý của điểm đến du lịch: bao gồm du lịch biển, du lịch núi, du lịch thành phố( đô thị), du lịch nông thôn( đồng quê, điền dã, trang trại, miệt vườn).
Căn cứ vào phương tiện giao thông: bao gồm du lịch xe đạp và các phương tiện thô sơ( xích lô, xe ngựa, lạc đà), du lịch xe máy, du lịch ô tô( ô tô du lịch và xe buýt đường dài), du lịch tàu hỏa, du lịch tàu thủy…Trong loại hình này cần chú ý, du khách có thể có nhu cầu về dịch vụ chuyên chở hoặc thuê phương tiện vận chuyển.
Căn cứ vào phương tiện lưu trú: bao gồm du lịch ở khách sạn, motel, nhà trọ, bãi cắm trại, làng du lịch…
Căn cứ vào thời gian du lịch: bao gồm du lịch dài ngày và du lịch ngắn ngày.
Căn cứ vào lứa tuổi: bao gồm du lịch thiếu niên, du lịch thanh niên, du lịch trung niên, du lịch cao niên.
Căn cứ vào hình thức tổ chức du lịch: bao gồm du lịch theo đoàn, du lịch gia đình và du lịch cá nhân( du lịch ba lô)
Căn cứ vào phương thức hợp đồng: bao gồm du lịch trọn gói và du lịch từng phần.
2.5. Một số loại hình du lịch mới trên thế giới
Du lịch nông thôn: Không đơn giản là tận hưởng những giây phút nghỉ ngơi, thư giãn khi tham gia du lịch nông thôn, du khách còn có cơ hội tìm hiểu những tầng sâu văn hoá sinh hoạt của người dân địa phương, hiểu được quy trình sản xuất để cho ra đời một sản phẩm. Hình thức này vừa góp phần “làm mới” hoạt động du lịch, vừa giúp nông dân nâng cao thu nhập.
Mới lạ, hấp dẫn là cảm nhận chung của nhiều du khách khi lựa chọn các tour (chuyến du lịch) về nông thôn. Ở đây, họ được trực tiếp tham gia vào những công việc rất giản dị như lội ruộng, tát cá, trồng rau, chẻ nan, đan cót, tạo dáng cho sản phẩm gốm…; được trải nghiệm để trở thành nông dân, thợ thủ công thực thụ. Với nền văn minh lúa nước, hệ thống làng xã và các thiết chế văn hóa độc đáo, cách làm này đang là hướng mở cho các đơn vị kinh doanh du lịch hiện nay.
5 hình thức du lịch nông thôn là:
Du lịch tự nhiên, mang tính giải trí.
Du lịch văn hóa, quan tâm tới văn hóa, lịch sử và khảo cổ của địa phương.
Du lịch sinh thái quan tâm tới việc bảo vệ nguồn lợi tự nhiên cũng như phúc lợi, giá trị văn hóa của người dân địa phương.
Du lịch làng xã, trong đó du khách chia sẻ với cuộc sống làng xã và dân làng được hưởng các lợi ích kinh tế do các hoạt động du lịch mang lai.
Du lịch nông nghiệp, trong đó khách du lịch tham quan và tham gia vào các công việc truyền thống không phá hoại hoặc làm giảm năng suất cây trồng của địa phương.
Một số ví dụ điển hình cho loại hình du lịch này là: du lịch làng nghề Bát Tràng bằng xe trâu, du khách tập làm gốm tại làng nghề Bát Tràng, tập làm nông dân tai Hội An…
Tràng An- Địa điểm du lịch nổi tiếng tại Ninh Bình
Du lịch thiền: Bên cạnh các loại hình du lịch khám phá, nghỉ dưỡng… Hiện nay, du lịch thiền ( Zentourism) đang là loại hình được ưa chuộng tại các nước có nhịp độ phát đô thị cao. Lập lại cân bằng tâm linh, thư giãn, thân thiện với môi trường là đặc trưng cơ bản của loại hình du lịch này. Nó đang là trào lưu thu hút mọi tầng lớp khách du lịch, dặc biệt là doanh nhân.Hình thức du lịch này đang rất được, ưa chuộng và phát triển tại thành phố Hồ Chí Minh, Nha Trang…
Bài viết trên đây đã chia sẻ sẻ đến bạn các loại hình du lịch phổ biến nhất hiện nay. Mong rằng kiến thức này có thể giúp ích bạn trong quá trình học tập. Nếu còn bất kỳ thắc mắc gì vui lòng liên hệ hotline 0988 55 2424 để được tư vấn và hỗ trợ trực tiếp.
Chi phí sản xuất là gì? Trong sản xuất kinh doanh có bao nhiêu loại chi phí sản xuất, cách phân lại các chi phí này ra sao? Đây đều là những câu hỏi khiến nhiều người ban khoan khi tính toán chi phí kinh doanh. Cùng Luận Văn 24 tham khảo ngay bài viết dưới đây để được đội ngũ chuyên gia giải đáp những thắc mắc một cách chi tiết nhất.
1. Chi phí sản xuất là gì?
Chi phí sản xuất là biểu hiện bằng tiền của toàn bộ hao phí về lao động sống và lao động vật hoá cần thiết cho quá trình sản xuất kinh doanh mà doanh nghiệp phải chi ra trong một kỳ kinh doanh.
Một doanh nghiệp muốn tiến hành hoạt động sản xuất kinh doanh phải có đủ ba yếu tố cơ bản đó là tư liệu lao động, đối tượng lao động và sức lao động. Quá trình sản xuất kinh doanh hay quá trình luân chuyển trên là sự kết hợp của 3 yếu tố đó, đồng thời cũng là quá trình tiêu hao các yếu tố đã nêu.
Ví dụ: Khi doanh nghiệp sử dụng lao động phải chi tiền lương, tiền thưởng, tiền trích bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế, kinh phí công đoàn
Trên góc độ kế toán tài chính, chi phí được nhìn nhận như những khoản phí tổn phát sinh gắn liền với hoạt động của doanh nghiệp để đạt được một sản phẩm, lao vụ, dịch vụ nhất định. Chi phí được xác định bằng tiền của những hao phí về lao động sống cần thiết và lao động vật hóa… trên cơ sở chứng từ, tài liệu bằng chứng chắc chắn.
Trên góc độ kế toán quản trị, chi phí còn được nhận thức theo phương thức nhận diện thông tin ra quyết định. Chi phí có thể là phí tổn thực tế gắn liền với hoạt động sản xuất kinh doanh hàng ngày khi tổ chức thực hiện, kiểm tra, ra quyết định; chi phí có thể là phí tổn ước tính để thực hiện dự án, phí tổn mất đi khi lựa chọn phương án, bỏ qua cơ hội kinh doanh.
Khi sử dụng tài sản cố định là chi phí về khấu hao tài sản cố định tương ứng. Khi sử dụng nguyên vật liệu là chi phí về nguyên vật liệu tương ứng….
Những chi phí về tiền lương, tiền thưởng, tiền trích các khoản theo lương và biểu hiện bằng tiền của những hao phí về lao động sống. Những chi phí về nguyên liệu, vật liệu, nhiên liệu, về khấu hao tài sản cố định…. là biểu hiện bằng tiền của hao phí về lao động vật hoá.
Như vậy, để tiến hành sản xuất hàng hoá, doanh nghiệp phải bỏ ra một lượng chi phí về thù lao lao động về tư liệu lao động và đối tượng lao động. Vì thế sự hình thành nên các chi phí sản xuất để tạo ra giá trị sản phẩm sản xuất là tất yếu khách quan, không phụ thuộc vào yếu tố chủ quan cua người sản xuất.
2. Phân loại chi phí sản xuất kinh doanh
Chi phí sản xuất kinh doanh có thể được phân loại theo nhiều tiêu thức khác nhau tuỳ thuộc vào mục đích và yêu cầu của công tác quản lý. Tuy nhiên về mặt hạch toán chi phí sản xuất được phân theo các tiêu thức cơ bản sau:
2.1. Phân theo lĩnh vực hoạt động kinh doanh
Căn cứ vào việc tham gia của chi phí vào hoạt động sản xuất kinh doanh, toàn bộ chi phí được chia làm 3 loại.
Chi phí hoạt động tài chính: bao gồm những chi phí liên quan đến hoạt động về vốn đầu tư tài chính của doanh nghiệp.
Chi phí hoạt động bất thường: bao gồm những chi phí ngoài dự kiến có thể do chủ quan hoặc khách quan mang lại.
Chi phí sản xuất kinh doanh: bao gồm những chi phí liên quan đến hoạt động sản xuất và tiêu thụ sản phẩm, quản lý hành chính.
Cách phân loại này giúp cho việc phân định chi phí được chính xác, phục vụ cho việc tính giá thành, xác định chi phí và kết quả của từng hoạt động kinh doanh một cách đúng đắn cũng như việc lập báo cáo tài chính nhanh chóng kịp thời.
Hiện tại, Luận Văn 24 đang cung cấp dịch vụ tư vấn làm tiểu luận, luận văn ngành kinh tế, tài chính. Nếu bạn bận rộn không có thời gian để hoàn thành hay gặp bất cứ khó khăn nào trong việc hoàn thành bài luận, hãy để chúng tôi đồng hành cùng bạn giải quyết mọi vấn đề. Với kinh nghiệm và đội ngũ trình độ cao, chúng tôi cam kết sẽ mang đến cho bạn nhiều lợi ích nhất.
2.2. Phân loại theo yếu tố chi phí
Theo cách phân loại này, mỗi yếu tố chi phí sản xuất bao gồm những chi phí có cùng nội dung kinh tế không phân biệt chi phí đó phát sinh ở lĩnh vực sản xuất nào, ở đâu, mục đích và tác dụng như thế nào.
Yếu tố nguyên liệu, vật liệu
Yếu tố nguyên liệu, vật liệu gồm toàn bộ các chi phí về các loại nguyên vật liệu chính, vật liệu phụ, phụ tùng thay thế, công cụ, dụng cụ…. đã được sử dụng trong sản xuất kinh doanh trong kỳ (loại trừ những giá trị không dùng hết nhập lại kho và phế liệu thu hồi cùng với nhiên liệu, động lực).
Yếu tố nhiên liệu động lực sử dụng vào quá trình sản xuất kinh doanh trong kỳ (trừ số dùng không hết nhập lại kho và phế liệu thu hồi).
Yếu tố lương và các khoản phụ cấp lương: Phản ánh tổng số tiền lương và phụ cấp mang tính chất lương phải trả cho công nhân viên chức.
Yếu tố BHXH, BHYT, kinh phí công đoàn trích theo tỷ lệ quy định trên tổng số tiền lương và phụ cấp lương phải trả công nhân viên chức.
Yếu tố khấu hao tài sản cố định: Phản ánh tổng số khấu hao tài sản cố định phải trích trong kỳ của tất cả tài sản cố định sử dụng cho sản xuất kinh doanh.
Yếu tố chi phí dịch vụ mua ngoài: Phản ánh toàn bộ chi phí dịch vụ mua ngoài dùng vào sản xuất kinh doanh.
Yếu tố chi phí bằng tiền: phản ánh toàn bộ chi phí khác bằng tiền chi cho hoạt động sản xuất kinh doanh ngoài các yếu tố kể trên.
Phân loại chi phí sản xuất theo tiêu thức này cho biết tỷ trọng của từng yếu tố chi phí sản xuất để phân tích, đánh giá tình hình thực hiện dự toán chi phí sản xuất và lập báo cáo sản xuất theo yếu tố….
2.3. Phân loại theo khoản mục chi phí trong giá thành sản phẩm
Để thuận tiện cho việc tính giá thành toàn bộ, dựa vào mục đích và công dụng của chi phí người ta chia chi phí sản xuất thành 5 khoản mục:
Chi phí nguyên vật liệu trực tiếp gồm chi phí về nguyên vật liệu chính, vật liệu phụ sử dụng vào mục đích trực tiếp sản xuất sản phẩm.
Chi phí nhân công trực tiếp là chi phí về tiền lương và các khoản trích theo lương của công nhân trực tiếp sản xuất sản phẩm.
Chi phí sản xuất chung: là chi phí dùng cho hoạt động sản xuất chung ở các phân xưởng, tổ, đội sản xuất ngoài chi phí trực tiếp bao gồm: chi phí nhân viên phân xưởng, chi phí vật liệu, chi phí dịch vụ mua ngoài, chi phí khấu hao tài sản cố định và chi phí khác bằng tiền.
Chi phí bán hàng: bao gồm toàn bộ chi phí cần thiết để đảm bảo thực hiện đơn đặt hàng và giao sản phẩm đến khách hàng, loại chi phí này bao gồm: chi phí quảng cáo giao dịch, hoa hồng bán hàng, lương nhân viên bán hàng, các chi phí gắn với kho cất thành phẩm.
Chi phí quản lý doanh nghiệp: bao gồm chi phí hành chính tổ chức văn phòng mà không thể xếp vào quá trình sản xuất như chi phí bồi thường hành thất, kế toán tổng hợp, quản lý toàn xí nghiệp.
2.4. Phân loại chi phí theo mối quan hệ với khối lượng sản phẩm
Để thuận lợi cho việc lập kế hoạch và kiểm tra chi phí đồng thời làm căn cứ để đề ra các quyết định kinh doanh toàn bộ chi phí sản xuất kinh doanh lại được phân loại theo mối quan hệ với khối lượng công việc hoàn thành. Theo cách này chi phí được chia thành hai loại:
Chi phí khả biến (Biến phí)
Chi phí khả biến là những chi phí thay đổi về tổng số, về tỷ lệ so với khối lượng công việc hoàn thành chẳng hạn chi phí về nguyên vật liệu, chi phí nhân công trực tiếp. Cần chú ý rằng các chi phí biến đổi nếu tính trên một đơn vị sản phẩm lại có tính cố định.
Chi phí cố định (định phí)
Chi phí cố định là những chi phí không đổi về tổng số so với khối lượng công việc hoàn thành, chẳng hạn các chi phí về khấu hao tài sản cố định, chi phí thuê mặt bằng, phương tiện kinh doanh … Các chi phí này nếu tính cho một đơn vị sản phẩm lại biến đổi tỷ lệ nghịch với sản lượng sản phẩm.
2.5. Phân loại chi phí theo cách thức kết chuyển chi phí
Theo cách thức kết chuyển, toàn bộ chi phí sản xuất kinh doanh được chia thành chi phí sản phẩm và chi phí thời kỳ.
Chi phí sản phẩm là những chi phí gắn liền với các sản phẩm được sản xuất ra hoặc được mua.
Chi phí thời kỳ là những chi phí làm giảm lợi tức trong một kỳ nào đó, nó không phải là một phần đầu tư sản phẩm được sản xuất ra hoặc được mau nên được xem là các phí tổn, cần được khấu trừ ra từ lợi nhuận của thời kỳ mà chúng phát sinh.
Trên đây là những kiến thức đầy đủ giúp bạn có thể hiểu rõ Chi phí sản xuất là gì? Và cách phân loại chi phí sản xuất kinh doanh. Trong quá trình tìm hiểu, nếu có bất kì ý kiến thắc mắc xin liên hệ qua hotline 0988 55 2424 của Luận Văn 24 để được đội ngũ chuyên gia tư vấn giúp đỡ.
Bạn cần phải hoàn thành bài tiểu luận triết học Phật giáo nhưng chưa biết làm thế nào? Trong bài viết này, Luận Văn 24 sẽ chia sẻ đến bạn mẫu bài tiểu luận chi tiết. Bên cạnh đó, bạn cũng có thể download toàn bộ bài tiểu luận tại link ở cuối bài viết này.
Đạo Phật là một trong những học thuyết Triết học – tôn giáo lớn nhất trên thế giới, tồn tại rất lâu đời. Hệ thống giáo lý của nó rất đồ sộ và số lượng phật tử đông đảo được phân bố rộng khắp. Đạo phật được truyền bá vào nước ta khoảng thế kỷ II sau Công nguyên và đã nhanh chóng trở thành một tôn giáo có ảnh hưởng sâu sắc đến đời sống tinh thần của con người Việt Nam, bên cạnh đó đạo Nho, đạo Lão, đạo Thiên chúa. Tùy từng giai đoạn lịch sử dân tộc ta đều có một học thuyết tư tưởng hoặc một tôn giáo nắm vai trò chủ đạo, có tác động mạnh nhất đến nếp sống, thói quen, suy nghĩ của con người, như Phật giáo ở thế kỷ thứ X – XIV, Nho giáo thế kỷ thứ XV – XIX, học thuyết Mác – Lênin từ giữa thập kỷ 40 của thế kỷ XX cho đến nay.
Trong công cuộc xây dựng đất nước quá độ lên Chủ Nghĩa Xã Hội (CNXH), chủ nghĩa Mác – Lênin là tư tưởng chủ đạo, là vũ khí lý luận của chúng ta nhưng bên cạnh đó, bộ phận kiến trúc thượng tầng của xã hội cũ vẫn có sức sống dai dẳng, trong đó giáo lý nhà Phật đã ít nhiều in sâu vào tư tưởng tình cảm của một số bộ phận lớn dân cư Việt Nam. Việc xóa bỏ hoàn toàn ảnh hưởng của nó là không thể thực hiện được nên chúng ta cần vận dụng nó một cách hợp lý để góp phần đạt được mục đích của thời kỳ quá độ cũng như sau này. Vì vậy, việc nghiên cứu lịch sử, giáo lý, và sự tác động của đạo Phật nói chung và tư tưởng triết học của Phật giáo nói riêng đối với thế giới quan, nhân sinh quan của con người là hết sức cần thiết. Theo đạo để làm điều thiện, tránh cái ác, hình thành nhân cách con người tốt hơn chứ không trở nên mê tín dị đoan, cúng bái, lên đồng, gây ảnh hưởng xấu đến sức khỏe, niềm tin của quần chúng nhân dân. Chính vì vậy, chúng ta cùng tìm hiểu Tư tưởng triết học của Phật giáo và sự ảnh hưởng của nó đến đời sống văn hóa tinh thần của người Việt.
2. Sự hình thành và phát triển của Phật giáo
2.1. Sự ra đời của Phật giáo
Trong lịch sử triết học của ấn Độ, mà thực chất là lịch sử phát triển của các hệ tư tưởng triết học xen lẫn với tôn giáo, có một thời kỳ là thời kỳ Bàlamôn giáo, Phật giáo (từ thế kỷ VI trước công nguyên đến thế kỷ thứ VI sau công nguyên). Ở thời kỳ này, mặc dù nền kinh tế đã phát triển hơn trước, nhưng nó vẫn bị kìm hãm bởi tính chất tổ chức kiên cố của công xã nông thôn, bởi sự phân chia đẳng cấp khắc nghiệt và sự thống trị của nhà nước trung ương tập quyền.
Trong lĩnh vực đời sống tinh thần của xã hội, các trào lưu triết học, mà thực chất là các hệ tư tưởng của các tầng lớp khác nhau trong xã hội, xuất hiện đa dạng nhưng chia thành hai hệ thống chính đối lập nhau: chính thống và không chính thống. Hệ tư tưởng chính thống với thế giới quan duy tâm, tôn giáo của kinh Veda và giáo lý Bà la môn trở thành hệ tư tưởng của giai cấp thống trị. Nhưng hệ tư tưởng không chính thống với đạo Phật, đạo Jaina và phong trào đòi tự do tư tưởng, đòi bình đẳng xã hội ở vùng Đông ấn lại ăn sâu vào mọi tầng lớp nhân dân.
Đạo Phật đã hình thành ở ấn Độ vào khoảng thế kỷ thứ VI trước công nguyên, người sáng lập là thái tử Sidharta (Tất Đạt Đa) (Cồ – đăm), với tư cách là một trong những hệ tư tưởng tiên phong chống phân chia giai cấp, kì thị màu da và đồng cảm với nỗi khổ của nhân dân ấn Độ nói riêng, với con người nói chung.
Thái tử Tất Đạt Đa (Sidharta) là con vua Tịnh Phạn (Sudhodana) nước Ca Tỳ La Vệ (Kapila vastu). Truyền kể vào năm 624 trước công nguyên, hoàng hậu MaDa (Maya) sinh hạ một hoàng tử tuấn tú tại vườn ngự uyển Lâm Tỳ Ni (Lumbini) dưới gốc cây Ưu Bát La, thường gọi là cây Vô Ưu (asokaa) có hoa với sắc màu rực rỡ. Thái tử sinh vào ngày trăng tròn tháng Vésaka, nhằm ngày rằm tháng tư âm lịch và được đặt tên là Tất Đạt Đa. Lớn lên, thái tử văn võ toàn tài, vợ là công chúa Da Du Đà La (Yasodava) con vua Thiện Giác, cuộc sống rất đầy đủ, sung sướng.
Nhưng những điều mắt thấy tai nghe về những nỗi đau khổ của con người đã ám ảnh tâm tư thái tử. Một ngày kia, thái tử ra đi, tương truyền ngài đến dòng A Nô Ma cắt tóc làm đạo sĩ. Ngài rủ năm người đến vùng Uruvela tu khổ hạnh trong 6 năm. Nhưng sau 6 năm học đạo và khổ hạnh, thái tử thấy kẻ hưởng lạc sẽ bê tha thối nát, còn tu hành khổ hạnh chỉ chuốc thêm khổ thân, chỉ có con đường trung đạo mới mong thành chính quả. Bởi thế, Thái tử đã bỏ 5 anh em ông Kiều Trần Như, dùng bát sữa của mục nữ Tu Xá Đề (Sajata), xuống sông Ni Liên tắm rửa, rồi lên thiền quán dưới gốc cây pipal (cây Tất Bát La, xứ Ba La Nại) lớn và ngồi dưới gốc cây suy nghĩ. Tương truyền là qua 49 ngày, ngài đã chứng tam minh tức là Túc mạng minh, Thiên nhân minh và Lậu tận minh, thành Phật hiệu là Thích Ca Mâu Ni, năm 36 tuổi. Gốc cây chỗ ngài ngồi gọi là Bồ đề đạo dưỡng (Bodhimanda) hay Kim cương tọa (Vadjrasana).
Sau đó, ngài tìm 5 người bạn trước đây, giác ngộ cho họ, rồi cùng họ trong suốt 40 năm còn lại của cuộc đời đi truyền bá tư tưởng của mình. Có những câu chuyện đã thành huyền thoại về Phật như Phật đã dừng chân bên vệ đường xâu kim cho bà già mù lòa, săn sóc, dọn dẹp ô uế cho người bệnh, nhận cơm thừa của một tiện nữ dâng cúng… Từ những việc nhỏ nhất, tất cả đều thể hiện lòng từ bi bác ái của Ngài và đạo của Ngài.
2.2. Con đường truyền đi của đạo Phật
Sau Phật Niết bàn, các đệ tử Phật kiết tập 4 lần. Qua cuộc kiết tập lần thứ hai, do quan điểm bất đồng, Phật giáo chia thành hai phái: Thượng tọa bộ và Đại chúng bộ. Thượng tọa bộ chủ trương bảo thủy nguyên Phật giáo ban đầu, đọc kinh bằng tiếng Pali. Đại chúng bộ có tư tưởng cấp tiến, phóng khoáng đọc kinh bằng tiếng Sanskrit.
Dị biệt tiếp tục phát triển, về sau giáo đoàn Phật giáo cho làm hai hệ là Nam truyền và Bắc truyền. Thượng tọa bộ chi phối Nam ấn và Phật giáo Nam truyền liên tục hưng thịnh. Đại chúng bộ chi phối Bắc ấn, nhưng mãi đến thời Bồ Tát Mã Minh (Asvaghosha) 5 thế kỷ sau Phật niết bàn, mới mở màn hưng thịnh và sáng rỡ nhất là thời kỳ Bồ Tát Long Thọ (Nagarjuna) đầu thế kỷ II sau công nguyên.
Phật giáo Nam truyền lan đến các nước phía Nam ấn: Tích Lan, Thái Lan, Miến Điện, Lào, Campuchia và đa số trở thành quốc giáo. Phật giáo Bắc truyền lan đến các vùng phía Bắc ấn (Tây Tạng, Trung Quốc, Nhật Bản, … ) mà mỗi nước lại có màu sắc riêng. Trung Hoa đã làm cho Phật giáo Bắc truyền thêm rực sáng. Sau này còn gọi Phật giáo Nam truyền là Phật giáo Tiểu Thừa, còn Phật giáo Bắc truyền là Phật giáo Đại Thừa.
Với hai con đường thuỷ và bộ Phật giáo cũng vào Việt Nam những thế kỷ đầu công nguyên.
3. Tư tưởng triết học Phật giáo
3.1. Nhân quả
Tư tưởng triết học Phật giáo trên hai phương diện, về bản thể luận và nhân sinh quan, chứa đựng những tư tưởng duy vật và biện chứng chất phác. Phật giáo cho rằng các sự vật và hiện tượng trong vũ trụ (chử pháp) là vô thủy, vô chung (vô cùng, vô tận). Tất cả thế giới đều ở quá trình biến đổi liên tục (vô thường) không có một vị thần nào sáng tạo ra vạn vật cả. Tất cả các Pháp đều thuộc về một giới (vạn vật đều nằm trong vũ trụ) gọi là Pháp giới. Mỗi một pháp (mỗi một sự việc hiện tượng, hay một lớp sự việc hiện tượng) đều ảnh hưởng đến toàn Pháp. Như vậy các sự vật, hiện tượng hay các quá trình của thế giới là luôn luôn tồn tại trong mối liên hệ, tác động qua lại và qui định lẫn nhau.
Tác phẩm “Thanh dung thực luận” của kinh phật viết rằng: “Có người cố chấp là có Đại tự nhiên là bản thể chân thực bao khắp cả, lúc nào cũng thường định ra chu pháp, đạo Phật cho rằng toàn bộ chư pháp đều chi chi phối bởi luật nhân quả, biến hóa vô thường, không có cái bản ngã cố định, không có cái thực thể, không có hình thức nào tồn tại vĩnh viễn cả.
Do quy luật nhân quả mà vạn vật ở trong quá trình biến đổi không ngừng, thành, trụ, hoại, diệt (sinh thành, biến đổi, tồn tại, tan rã và diệt vong). Quá trình đó phổ biến khắp vạn vật, trong vũ trụ, nó là phương thức thay đổi chất lượng của sự vật và hiện tượng. Phật giáo trong quá trình giải thích sự biến hóa vô thường của vạn vật, đã xây dựng nền thuyết “ nhân duyên”. trong thuyết “nhân duyên” có ba khái niệm chủ yếu là Nhân, Quả và Duyên.
Ví dụ hạt lúa là cái quả của cây lúa đã thành, mà lại là cái nhân của cây lúa sắp thành. Lúa muốn thành cây lúa có bông lại phải nhờ có điều kiện và những mối liên hệ thích hợp như đất, nước, không khí, ánh sáng. Những yếu tố đó chính là Duyên.
Trong thế giới sinh vật, khi đã giải thích về nguyên nhân biến hóa vô thường của nó, từ quá khứ đến hiện tại, từ hiện đại tới tương lai. Phật giáo đã trình bày thuyết “ Thập Nhị Nhân Duyên” (mười hai quan hệ nhân duyên) được coi là cơ sở của mọi biến đổi trong thế giới hiền sinh, một cách tất yếu của sự liên kết nghiệp quả.
Quy luật nhân quả vạn vật
3.2. Luân hồi
Nghiệp và luân hồi không những chỉ là những khái niệm của Triết học Phật giáo mà có từ trong Upanishad. Nghiệp chữ phạn và Karma là cái do những hoạt động của ta, do hậu quả việc làm của ta, do hành động của thân thể ta. Được gọi là “Thân nghiệp”, còn hậu quả của những lời nói của ta, phát ngôn của ta thì được gọi là “khẩu Nghiệp”. Hay những cái do ý nghĩ của ta, do tâm trí của ta gây nên được gọi là ”ý Nghiệp”. Tất cả những Thân nghiệp, Khẩu nghiệp, Ý nghiệp là do ta tham dục mà thành, do ta muốn thỏa mãn tham vọng của mình gây nên. Sở dĩ ta tham dục vì ta chưa hiểu được chân bản vốn có của ta cũng như vạn vật là luôn luôn biến đổi không có gì là thường định và vĩnh viễn cả.
Cuộc đời con người là sự gánh chịu hậu quả của nghiệp đương thời và các kiếp sống trước rồi nó tiếp tục chi phối cả đời sau. Nghiệp báo trong một đời là sự tổng hợp của các nghiệp gây ra trong hiện tại cộng với các nghiệp gây ra trong quá khứ, nó quyết định đời sau xấu hay tốt, thiện hay ác.
Luân hồi: Chữ phạn là Samsara. Có nghĩa là bánh xe quay tròn. Đạo phật cho rằng, sau khi một thể xác sinh vật nào đó chết thì linh hồn sẽ tách ra khỏi thể xác và đầu thai vào một sinh vật khác nhập vào một thể xác khác (có thể là con người, loài vật thậm chí cỏ cây). Cứ thế mãi do kết quả, quả báo hành động của những kiếp trước gây ra. Đó cũng là cách lý giải căn nguyên nỗi khổ ở đời con người. Sau khi lý giải được nỗi khổ ở cuộc đời con người là do “thập nhị nhân duyên” làm cho con người rơi vào bể trầm luân. Đạo Phật đã chủ trương tìm con đường diệt khổ. Con đường giải thoát đó không những đòi hỏi ta nhận thức được nó mà cao hơn ta phải hành động, phải thấm nhuần tứ diệu đế.
3.3. Tứ diệu đế
Là bốn sự thật chắc chắn, bốn chân lý lớn, đòi hỏi chúng sinh phải thấu hiểu và thực hiện nó. Tứ diệu đế gồm:
Khổ đế: Con người và vạn vật sinh ra là khổ, ốm đau là khổ, già yếu là khổ, chết là khổ, ghét nhau mà phải sống gần nhau là khổ, yêu nhau mà phải chia lìa nhau là khổ, mất là khổ mà được cũng là khổ, … Những nỗi khổ ấy từ đâu, chúng ta tiếp tục tìm hiểu Tập đế.
Tập đế: Tập là tập hợp, tụ tập lại mà thành. Vậy do những gì tụ tập lại mà tạo ra nỗi khổ cho chúng sinh. Đó là do con người có lòng tham, dâm (giận dữ), si (si mê, cuồng mê, mê muội) và dục vọng. Lòng tham và dục vọng của con người xâu xé là do con người không nắm được nhân duyên. Vốn như là một định luật chi phối toàn vũ trụ. Chúng sinh không biết rằng mọi cái là ảo ảnh, sắc sắc, không không. Cái tôi tưởng là có nhưng thực là không. Vì không hiểu được ra nỗi khổ triền miên, từ đời này qua đời khác.
Diệt đế: Là phải thấu hiểu được “Thập nhị nhân duyên” để tìm ra được căn nguyên của sự khổ – để dứt bỏ từ ngọn cho đến gốc rễ của cái khổ. Thực chất là thoát khỏi nghiệp chướng, luân hồi, sinh tử.
Đạo đế: Là con người ta phải theo đế diệt khổ, phải đào sâu suy nghĩ trong thế giới nội tâm (thực nghiệm tâm linh). Tuy luyện tâm trí, đặc biệt là thực hành YOGA để đạt tới cõi siêu phàm mà cao nhất là đạt tới cõi phận là đạt tới trình độ giác ngộ bát nhã. Tới chừng đó sẽ thấy được chân như và thanh thản tuyệt đối, hết ham muốn, hết tham vọng tầm thường, tức là đạt tới cõi “niết bàn” không sinh, không diệt.
Trên đây là một bài mẫu tham khảo tiểu luận triết học Phật giáo chi tiết.Hi vọng bài viết có thể mang lại cho bạn một số thông tin hữu ích. Ngoài ra bạn có thể download bài tiểu luận triết học này tại đây
Trong quá trình làm bài luận văn tốt nghiệp, nếu bạn gặp phải bất kì khó khăn gì cần giúp đỡ thì đừng ngần ngại liên hệ qua hotline 0988 55 2424 để dịch vụ tư vấn làm tiểu luận của chúng tôi giúp bạn hoàn thành bài luận văn của mình một cách tốt nhất.